tiểu luận về luật hình sự
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về chế định án tích. Chương 2: Chế định án tích theo luật hình sự Việt Nam. Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ
Vân Anh bị Công an tỉnh Bình Thuận bắt để điều tra về hành vi "Lạm dụng tín nhiệmchiếm đoạt tài sản" theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.. Quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt tạm giam Ninh Thị Vân Anh của Công an tỉnh Bình Thuận được Viện KSND tỉnh Bình Thuận phê chuẩn.
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
Trên đây là Mẹo Viết Tiểu Luận Về Môn Luật Tố Tụng Hình Sự, 10 Điểm. Chúng tôi đã thu thập những thông tin, kiến thức, những nghiên cứu về chủ đề này trên các nguồn uy tín và có thêm những sự sáng tạo, cập nhật để phù hợp với tình hình hiện nay của đất nước. Chúng tôi hy vọng những gì chúng tôi chia sẻ bên trên sẽ giúp đỡ cho bài làm của bạn.
21.Chủ thể của tội phạm trong luật hình sự Việt Nam - Lý luận và thực tiễn. 22.Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự - Lý luận và thực tiễn. 23.Năng lực trách nhiệm hình sự trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác - Lý luận và thực tiễn. 24.Tuổi chịu trách nhiệm hình sự - Lý luận và thực tiễn.
Sie Sucht Ihn Für Email Kontakt.
1Đề số 20 Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt mở đầuTrong luật hình sự Việt Nam, cùng với tội phạm thì hình phạt cũng là mộttrong hai nội dung chính của luật hình sự. Mỗi tội phạm có tính chất nguy hiểm vàmức độ nguy hiểm khác nhau thì theo nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự,người phạm tội sẽ phải chịu hình phạt tương xứng với tội phạm mà bản thân ngườiphạm tội gây ra. Có nhiều loại hình phạt khác nhau, trong đó hình phạt nghiêmkhắc nhất là hình phạt tử hình. Bộ luật hình sự 2015 đã giảm số lượng hình phạt tửhình đối với nhiều tội danh so với các Bộ luật hình sự trước đó, điều này nhằm đápứng nhu cầu hội nhập chung, cũng như phù hợp với Chiến lược cải cách tư phápnước ta. Hiện tại, Bộ luật hình sự 2015 chỉ còn 15 điều quy định hình phạt tử đề hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam luôn được đem ra để cânnhắc giữa loại bỏ hình phạt tử hình và giữ lại hình phạt tử hình trong mỗi lần làmluật hình sự ở Việt Nam. Vậy hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam hiệnhành như thế nào?2Giải quyết vấn đềI. Một số vấn đề lí luận chung về hình phạt tử hình trong luật hình sự ViệtNam1. Khái quát chung về hình phạt và mục đích hình phạt trong luật hình sựViệt NamTheo điều 30 Bộ luật hình sự 2015, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêmkhắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định ápdụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạnchế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại điều 32 Bộ luật hình sự 2015 quy định nhiều loại hình phạt, trong đó cóhình phạt chính và hình phạt bổ đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thươngmại phạm tội mà còn giáo dục ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộcsống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôntrọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội Khái quát chung về hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt NamHình phạt tử hình được quy định tại Chương VI Hình phạt trong Bộ luật hìnhsự Việt Nam. Theo đó, điều 40 Bộ luật hình sự 2015 quy định “Tử hình là hìnhphạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc mộttrong các nhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng conngười, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêmtrọng khác do Bộ luật hình sự quy định”.Do hình phạt tử hình cũng là một loại hình phạt trong hệ thống hình phạt quyđịnh trong Bộ luật hình sự, nên hình phạt tử hình trước tiên mang những đặc điểm3chung của hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước áp dụng đối với ngườiphạm tội; tử hình được quy định trong luật hình sự, được Tòa án áp dụng theo mộtmô hình tố tụng chặt chẽ đối với người bị kết án; tất cả những người chịu hình phạtdo luật hình sự quy định đều phải chịu án tích. Song, hình phạt tử hình cũng có mộtsố đặc điểm riêng như sau chỉ được áp dụng đối với trường hợp phạm tội đặc biệtnghiêm trọng thuộc một trong các nhóm tội quy định tại Bộ luật hình sự; tử hình làhình thức phòng ngừa tái phạm tội của người bị kết án cao nhất do tước đi mạngsống của người bị kết án, khiến cho họ không có cơ hội tái phạm; hình phạt tử hìnhcó tính chất không thay đổi, vì tước đi mạng sống của người khác nên nó tước đikhả năng khắc phục sai lầm trong hoạt động tư quy định tại điều 40, hình phạt tử hình là loại hình phạt nghiêm khắcnhất trong hệ thống các hình phạt trong Bộ luật hình sự. Tính nghiêm khắc nhất củahình phạt này ở chỗ nó tước đi sinh mạng, tính mạng- quyền sống của người bị kếtán trong trường hợp cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội không còn khả năngcảo tạo, giáo dục để hoàn lương. Vì vậy, chỉ có tử hình giúp loại bỏ họ vĩnh viễn rakhỏi đời sống xã hội, giúp đem lại cho cuộc sống bình yên, hạnh tích và bình luận hình phạt tử hình trong luật hình sự ViệtNam1. Phân tích hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt NamTại khoản 1 điều 40 Bộ luật hình sự 2015 quy định “Tử hình là hình phạt đặcbiệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong cácnhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, cáctội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác doBộ luật hình sự quy định”. Như đã thấy, hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắcnhất, chỉ áp dụng cho loại tội phạm đặc biệt nghiêm 9 Bộ luật hình sự 2015 phân loại tội phạm dựa trên tính chất nguy hiểmvà mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, bao gồm bốn loại tội phạm4tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tộiphạm đặc biệt nghiêm trọng. Trong đó, “tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạmcó tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất củakhung hình phạt do Bộ luật hình sự quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20năm tù, tù chung thân hoặc tử hình” khoản 4 điều 9. Hình phạt tử hình chỉ đượcáp dụng với những người cá nhân , pháp nhân thương mại pham tội bị kết ántrong những trường hợp tội gây nguy hại đặc biệt nghiêm trọng cho các quan hệ xãhội được luật hình sự bảo vệ. Cụ thể, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng phải thuộcmột trong các nhóm tội phạm được quy định tại Phần thứ hai Các Tội phạm của Bộluật hình sự, bao gồm các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm xâmphạm đến tính con người, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng và một sốloại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác mà theo đòi hỏi chung phải bị trừng phạtnghiêm khắc nhất. Nhà nước là người đứng ra đại diện cho nhân dân, thay mặtnhân dân loại bỏ, tước bỏ mạng sống của những người thuộc trường hợp tội phạmđặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, việc tước bỏ mạng sống của người thuộc trườnghợp này là vì lợi ích của số đông dân cư, vì lợi ích chung, và như vậy, tử hình cũngđã nhằm mục đích phòng ngừa chung, răn đe, cảnh báo để mọi người tôn trọng vàtuân thủ pháp 2 điều 40 Bộ luật hình sự quy định “Không áp dụng hình phạt tử hìnhđối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử”.-Đối với người chưa thành niên người chưa thành niên là người chưa đủ 18tuổi- điều 21 Bộ luật dân sự 2015 phạm tội1 Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật đượcáp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhấtđược áp dụng không quá 18 năm tù… khoản 1 điều 101 Bộ luật hình sự 2015;52 Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật đượcáp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhấtđược áp dụng không quá 12 năm tù…. khoản 2 điều 101 Bộ luật hình sự 2015;Đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tộihoặc khi bị xét xử, căn cứ để chứng minh có thai là xác nhận của cơ quan y tế cóthẩm quyền, căn cứ để xác định phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi là Giấykhai sinh, sổ hộ khẩu,… thì đều không được áp dụng hình phạt tử với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử, có thể hiểu làkhi phạm tội người đó đủ 75 tuổi trở lên rồi hay khi phạm tội chưa đủ 75 tuổi trởlên, nhưng khi được đem ra xét xử thì người phạm tội đó từ đủ 75 tuổi trở lên rồithì cũng đều không được áp dụng hình phạt tử hình đối với những trường hợp với quy định tại khoản 3 điều 40 Bộ luật hình sự 2015 “Không thi hành ántử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp saua Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;b Người đủ 75 tuổi trở lên;c Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bịkết án đã chủ động nộp lại ít nhất ¾ tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp táctích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lí tội phạmhoặc lập công lớn”.Quy định tại khoản 3 có thể hiểu rằng bản án kết án những trường hợp ngườiphạm tội mà hình phạt quy định trong bản án là hình phạt tử hình, trong quá trìnhxét xử hay thời gian kháng nghị, kiến nghị, thời gian chờ thi hành án, những ngườiphạm tội đó chưa có một trong các dấu hiệu tại khoản 3 điều 40 và có thể áp dụnghình phạt tử hình, thế nhưng đến thời gian thi hành án, thì người phạm tội lại cómột trong các dấu hiệu quy định tại khoản 3 điều 40 thì hình phạt tử hình quy địnhtrong bản án không được thi hành, nghĩa là những trường hợp trên được miễn hìnhphạt tử hình, mà hình phạt tử hình chuyển thành hình phạt tù chung điểm nữa, người bị kết án tử hình có quyền xin ân giảm của Chủ tịchnước. Nếu như Chủ tịch nước đồng ý chấp nhận đơn xin ân giảm án tử hình thì6người bị kết án tử hình chuyển thành tù chung thân. Nếu Chủ tịch nước bác đơn xinân giảm án từ hình thì hình phạt án tử hình sẽ được thi Bình luận hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt NamThứ nhất, như đã nói, do tử hình là hình phạt đặc biệt, nghiêm khắc nhất trongcác hình phạt, nên trình tự, thủ tục thi hành hình phạt này cũng được quy định chặtchẽ, để đảm bảo mặc dù tước bỏ mạng sống của người khác, nhưng vẫn nhân đạonhất, tránh được tối đa việc vi phạm quyền con người, quyền công dân. Điều đóđược thể hiện ở một số điểm sauMột, bản án phạt tử hình chỉ được thi hành khi không có kháng nghị theo thủtục Giám đốc thẩm, không có đơn xin ân giảm của người bị thi hành án được CHủtịch nước chấp nhận ân giảm. Trong trường hợp người bị kết án tử hình không cóđơn xin ân giảm thì Ban giám thị trại giam phải lập biên bản và yêu cầu người bịkết án kí vào biên bản. Điều này đảm bảo tối thiểu nhất cơ hội cho người bị kết ántử hình được miễn hình phạt tử hình, được chuyển sang hình phạt tù chung trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Chánh ánTòa án sơ thẩm ra quyết định thi hành án, lập biên bản có rõ ràng thông tin, gửi đếncác cơ quan có thẩm quyền quyền khác, đồng thời Chánh án Tòa án đã xét xử sơthẩm ra quyền định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình…Ba, hình phạt tử hình được thi hành bằng hình thức tiêm thuốc hai, trong Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người năm 1948, tại điều 3và cụ thể hóa tại điều 6 ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trịnăm 1966 Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống; Quyền này phải đượcpháp luật bảo vệ; Không ai có thể bị tước đoạt mạng sống một cách tùy tiện. Ngoàira, việc áp dụng hình phạt tử hình không được trái với những quy định của ICCPRvà Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng CPPCG;… Như vậy, ViệtNam đã là thành viên của các Công ước này, mặc nhiên, phải tuân thủ theo. Các7công ước hướng tới việc bảo vệ tối đa quyền cơ bản nhất của công dân là quyềnsống. Tuy nhiên, điều 6 ICCPR cũng không thể được coi là cơ sở pháp lí để việndẫn trong việc bảo vệ ý kiến cho việc trì hoãn hình phạt tử hình đối với nhữngngười phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội đã bị kết án tử hình, chuẩn bị thihành án. Hay điều 6 ICCPR cũng không thể coi là căn cứ pháp lí để ngăn cản việcxóa bỏ hình phạt tử hình ở pháp luật hình sự mỗi quốc gia thành viên, trong đó cóViệt ba, trong mối quan hệ giữa hình phạt tử hình và quyền sống, Công ướcquốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 ICCPR cũng không bắt buộc cácquốc gia thành viên phải xóa bỏ hình phạt tử hình, thế nhưng mặc nhiên cũngkhông được lạm dụng hình phạt này một cách bừa bãi mà phải hạn chế sử dụng nó,chỉ được sử dụng đối với “những tội ác nghiêm trọng nhất” và đặt ra những giớihạn trong việc áp dụng hình phạt này. Pháp luật Việt Nam hình phạt tử hình vẫnđược duy trì trong Bộ luật hình sự, tuy nhiên đã được giảm đi đáng kể, cụ thể Bộluật hình sự 1985 từ 44 điều xuống còn 29 điều trong bộ luật hình sự 1999, và còn22 điều trong Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009; đến nay, Bộ luậthình sự năm 2015 đã bỏ tiếp đi 7 điều, hiện chỉ còn 15 điều quy định hình phạt tửhình. Như vậy, việc giới hạn áp dụng hình phạt tử hình được Việt Nam tuân thủ rấttriệt để, cũng theo xu hướng nhân đạo chung của Quốc tế có thể những lần sửa đổiluật tiếp theo Việt Nam sẽ còn giảm tiếp những quy định tội phạm với hình phạt tư, x; height 280px;">thế nào, mặc dù trong các văn bản khác đã giải thích khi tiến hành thi hành biệnpháp tử hình sẽ áp dụng như thế nào. Đây là điểm thiếu sót, cần phải được sửa đổibổ tư, cần thống nhất, đồng bộ, nhất quán trong quá trình sửa đổi hình phạttử hình khi đặt nó trong mối quan hệ giữa hình phạt tử hình với các hình phạt kháchình phạt chính, hình phạt bổ sung, trong mối quan hệ giữa chế định hình phạt vàcác chế định của Bộ luật hình sự, giữa Bộ luật Hình sự với Bộ luật tố tụng hìnhsự…Thứ năm, luật hình sự là một phần trong hệ thống pháp luật nước ta, phục vụcho mục đích đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ giai cấp. Vì thế, việc hoànthiện, sửa đổi, rà soát pháp luật hình sự nói chung trong đó có chế định hình phạt,hình phạt tử hình cần phải tiến hành đồng bộ, thống nhất với các đạo luật có liênquan, nếu không sẽ dẫn tới tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, hay những lỗ hổngpháp luậnTóm lại, với tính chất là hình phạt nghiêm khắc nhất, song cũng là loại hìnhphạt truyền thống và có từ lâu đời, tử hình là hình phạt tước đi quyền sống của conngười, chỉ được áp dụng đối với những trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng,được quy định trong Bộ luật hình sự và được áp dụng với trình tự thủ tục chặt chẽdo Tòa án nhân dân quyết định. Trong thời kì ngày nay, tại Việt Nam, hình phạt tửhình vẫn có tác dụng là phương tiện mạnh mẽ để bảo vệ con người, công dân, bảovệ chế độ Xã hội Chủ nghĩa trước những hành vi nguy hiểm đặc biệt đáng kể củaxã hội. Bởi như một tính tất yêu khách quan, tội phạm đe dọa đến sự tồn tại của xãhội thì phải có những cách trừng trị thích đáng với người phạm tội. Như đãviết “Nếu như khái niệm tội phạm giả định phải có sự trừng phạt, thì tội phạm thựctế lại giả định phải có một mức độ trừng phạt nhất định. Tội phạm thực tế là có giớihạn, Vì vậy, cả sự trừng phạt cũng phải có giới hạn…” vậy nên hình phạt tử hìnhvẫn đóng vai trò quan trọng trong chế định hình phạt của Bộ luật hình sự Việt nào vẫn còn những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thì ngày đó hình phạt tửhình vẫn còn phát huy tính trừng phạt, răn đe, giáo dục của liệu tham khảo1. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung, Trường đại học Kiểm SátHà Nội- Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia- tr240, Giáo trình Lí luận và pháp luật về quyền con người, Nhà xuất bản Đại họcQuốc gia Hà Nội, Bộ luật Hình sự Luật thi hành án hình sự Nghị định số 82/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 của Chính phủ quy định về thihành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc />
lượt xem 133 download Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ Nội dung Text Tiểu luận Luật tố tụng hình sự Việt Nam Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam Tiểu luận Luật tố tụng hình sự Việt Nam 1 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam MỤC LỤC I. NỘI DUNG Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC. ...................................................... 3 1. Khái quát chung.................................................................................................. 3 a. Khái niệ m và cơ sở của nguyên tắc. ................................................................ 3 2. Nội dung của nguyên tắc. ................................................................................... 3 a. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập. .......................................................... 3 b. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử chỉ tuân theo pháp luật. ................................. 6 c. Mối quan hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của thẩm phán và hội thẩm. ........................................................................... 6 3. Ý nghĩa của nguyên tắc. ..................................................................................... 7 II. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO NGUYÊN TẮC.................................................... 9 1. Về cách thức tổ chức hệ thống Tòa án. ............................................................... 9 2. Về cách thức quản lý Tòa án............................................................................... 9 3. Về ngân sách nhà nước và hoạt động xét xử ...................................................... 9 4. Về hệ thống pháp luật ...................................................................................... 10 5. Về Thẩm phán và Hội thẩ m nhân dân .............................................................. 10 III. THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC. ........................................................ 11 1. Một số biểu hiện của việc không độc lập và tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm. ......................................................................................................... 11 b. Nguyên nhân của thực trạng trên. ................................................................. 12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 14 Phụ lục .................................................................................................................... 15 2 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam I. NỘI DUNG Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC. 1. Khái quát chung. a. Khái niệm và cơ sở của nguyên tắc. "Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" là một trong những nguyên tắc của luật tố tụng hình sự, được hiểu là trong quá trình xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân không bị ràng buộc bởi bất cứ yếu tố nào khác ngoài pháp luật, loại trừ mọi sự can thiệp từ bên ngoài vào hoạt động xét xử của tòa án. Cơ sở của nguyên tắc. Cơ sở lý luận Việc quy định nguyên tắc này gắn liền với việc tổ chức bộ máy Nhà nước theo cơ chế phân công và kiểm soát quyền lực. Tính độc lập của thẩm phán, hội thẩm là một trong những biểu hiện rõ nét của cơ chế phân chia quyền lực ở Việt Nam. Sự vi phạm nguyên tắc này sẽ dẫn đến sự lạm dụng quyền lực, sư thoái hóa của quyền lực và xã hội dĩ nhiên sẽ gánh chịu những hậu quả to lớn của tình trạng này. Cơ sở thực tiễn Nguyên tắc này được ghi nhận rộng rãi trong pháp luật của nhiểu quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam. Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Nga quy định "Khi tiến hành xét xử các vụ án hình sự,thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ phục tùng pháp luật. thẩm phán và hội thẩm nhân dân giải quyết các vụ án hình sự trên cơ sở của pháp luật, phù hợp với ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện loại trừ mọi sự tác động bên ngoài lên họ"; Điều 88 Hiến pháp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên cũng quy định "trong khi thi hành chức quyền của mình, các thẩm phấn đều độc lập và chỉ phục tùng pháp luật"... Tuy các quy định trên có khác nhau về hình thức nhưng nội dung cơ bản là giống nhau, đều đặc biệt nhấn mạnh tính độc lập của thẩm phán trong xét xử. Cơ sở pháp lý Nguyên tắc này có một lịch sử hình thành và phát triển lâu dài. Nó được nhắc đến lần đầu từ Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức tòa án và các ngạch tư pháp, tiếp đó là Điều 69 hiến pháp 1946, Điều 100 Hiến pháp 1959 và Điều 4 Luật tổ chức tòa án nhân dân 1960, Luật tổ chức tòa án nhân dân bản hiện hành là Điều 130 Hiến pháp năm 1992 và Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự, quy định rất rõ “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. 2. Nội dung của nguyên tắc. a. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập. Độc lập với các yếu tố khách quan 3 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam - Độc lập với các chủ thể khác của Tòa án giữa thẩm phán, hội thẩm và nội bộ ngành tòa án có mối quan hệ ràng buộc nhất định được thể hiện cụ thể ở Quan hệ giữa thẩm phán và tòa án cấp trên; quan hệ giữa thẩm phán và chánh án tòa án nhân dân tối cao; quan hệ giữa hội thẩm và chánh án tòa án nơi hội thẩm tham gia xét xử. Những mối quan hệ này không đơn thuần là quan hệ vè tổ chức hành chính càng không đơn thuần là quan hệ tố tụng. Trong quan hệ hành chính có mối quan hệ tố tụng và trong quan hệ tố tụng có mối quan hệ hành chính nhất định không có sự tách bạch rõ ràng. Ví dụ như Tiêu chí để có thể được tuyển chọn bổ nhiệm thẩm phán phải có phẩm chất đạo đức, năng lực, liêm khiết, do cơ quan nơi người được tuyển chọn đánh giá thong qua việc bỏ phiếu tín nhiệm. Chánh án là người đứng đầu cơ quan vừa sử dụng cán bộ nhưng đồng thời cũng là người quản lí cán bộ trong đơn vị mình, ngoài việc bỏ phiếu tín nhiệm như các cán bộ công chức khác, chánh án còn có tiếng nói quan trọng trong việc lựa chọn, định hướng công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ. Sau khi có phiếu tín nhiệm, người dược lựa chọn phải qua hội đồng tuyển chọn thẩm phán mà chánh án cấp trên là thành viên cảu hội đồng, sau đó mới đề nghị chánh án tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm. Có thể nói thẩm phán và hội thẩm là người chịu sự quản lí của chánh án và tòa án cấp trên. Thông qua công tác tổ chức xét xử như họp bàn trước khi xét xử, phân công thẩm phán, hội thẩm xét xử vụ án, chánh án có tác động đến hoạt động xét xử của thẩm phán và hội thẩm. Ngoài ra, việc có quy định “tòa án cấp trên” có thể hủy án “tòa án cấp dưới” cũng ảnh hưởng đến tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm. Chính vì vậy thẩm phán và hội thẩm phải có chính kiến, quan điểm của mình trong việc đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, mức hình phạt và giải quyết các vấn đề khác dựa trên quy đinh của pháp luật, đảm bảo xét xử công bằng khách quan. - Độc lập với sự chỉ đạo của của cấp ủy Đảng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghiã Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh dạo của Đảng cộng sản. Nhà nước công khai nguyên tắc Đảng lãnh đạo tại Điều 4 Hiến pháp 1992 và được quy định cụ thể trong các nghị quyết của Đảng như nghị quyết 08/ NQ-TW,..Ngoài ra giữa tổ chức Đảng và Thẩm phán còn có mối quan hệ khác ngoài mối quan hệ giữa Đảng viên và tổ chức Đảng qua thủ tục thẩm phán. Theo quy định hiện hành thì cùng với việc lấy phiếu tín nhiệm của cán bộ công chức trong cơ quan người được đề nghị còn phải lấy ý kiến của cấp ủy Đảng. Chính vì những lý do này mà yêu cầu được đặt ra là Thẩm phán và Hội thẩm phải nhận thức đúng đắn sự lãnh dạo của Đảng đối với hoạt động tư pháp để đảm bảo sự độc lập trong xét xử. 4 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam - Độc lập với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Hồ sơ vụ án hình sự là tài liệu đầu tiên để Thẩm phán và Hội thẩm tiến hành xem xét, đánh giá việc có hành vi phạm tội hay không, phạm tội gì và được quy định trong hình phạt nào. Việc xét xử của Tòa án dựa trên những thong tin cần thiết, đáng tin cậy đó là chứng cứ vụ án. Bản án, quyết định của Tòa án dựa trên cơ sở phân tích đánh giá thông tin đã được cơ quan điều tra thu thập. Chính vì vậy, các thông tin ban đầu nhất là kết luận điều tra và cáo trạng truy tố có ảnh hưởng nhất định đến nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, Độc lập với tài liệu trong hồ sơ vụ án là việc Thẩm phán và hội thẩm trên cơ sở đánh giá tính chính xác của các thông tin, kiểm tra lại tính xác thực, đúng đắn của quyết định truy tố, từ đó đưa ra quan điểm chứng minh tội phạm của Hội đồng xét xử, các tình tiết thu thập được phải phù hợp với hiện thực khách quan. - Độc lập với yêu cầu của người tham gia tố tụng, với dư luận và với cơ quan báo chí Phán quyết của Tòa án bao giờ cũng làm xuất hiện những nhóm mâu thuẫn về lợi ích, đó là những mâu thuẫn về lợi ích giữa bị cáo và người bị hại, giữa nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự, giữa nhà nước và người phạm tội. Ai cũng có nhu cầu kết quả xét xử đưa lại lợi ích tối ưu cho họ. Sau phán quyết của Tòa án sẽ có rất nhiều bình luận từ quần chúng nhân dân, từ cơ quan báo chí rằng tòa xét xử như vậy đúng hay không, có công bằng hay không, nặng hay nhẹ. Đặc biệt là các vụ án bị cấp trên xử hủy, những vụ án xét xử lưu động và các vụ án lớn được dư luận quan tâm. Những vấn đề đó đều tác động mạnh mẽ đến tâm lý của Thẩm phán và Hội thẩm khi thực hiện nhiệm vụ xét xử. Vì vậy, mới đặt ra yêu cầu Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập với yêu cầu của người tham gia tố tụng, với báo chí, với dư luận nghĩa là việc xét xử chỉ dựa trên những chứng cứ , những quy định của pháp luật, không phụ thuộc vào yêu cầu khách của những người nói trên. Độc lập với các yếu tố chủ quan giữa các thành viên trong hội đồng xét xử Cơ sở của việc độc lập xét xử giữa thẩm phán và hội thẩm được ghi nhận thành một trong những nguyên tắc của tố tụng đó là khoản 1 Điều 22 BLTTHS. Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một. Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án. Quy định này đã loại trừ việc thẩm phán lạm quyền, tác động đến hoạt động xét xử của Hội thẩm. Đồng thời, điều này cũng ngăn cấm thái độ ỷ lại vào Thẩm phán của Hội 5 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam thẩm mà cũng buộc Hội thẩm phải tích cực chủ động và có trách nhiệm trong hoạt động chứng minh tội phạm. b. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử chỉ tuân theo pháp luật. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập không có nghĩa là xét xử tùy tiện mà việc xét xử phải tuân theo quy định của pháp luật và điều này được thể hiện ở những khía cạnh sau Tuân theo pháp luật hình sự bao gồm cả luật thực định và khoa học về luật hình sự. Vì muốn áp dụng đúng các quy định của Bộ luật hình sự buộc Thẩm phán và Hội thẩm phải có kiến thức về việc định tội danh và quyết định hình phạt,… Tuân theo pháp luật tố tụng hình sự Có thể chia hoạt động xét xử của thẩm phán và Hội thẩm thành 2 giai đoạn, thứ nhất là từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước ngày mở phiên tòa và thứ hai là tại phiên tòa Ở giai đoạn thứ nhất là giai đoạn mà Thẩm phán và Hội thẩm nghiên cứu hồ sơ để xem xét các tài liệu có trong vụ án, từ đó xây dựng kế hoạch xét hỏi và những tình huống xảy ra tại phiên tòa để có kế hoạch ứng phó thích hợp và những công việc cần thiết khác cho phiên tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cần nắm chắc các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự từ thủ tục bắt đầu phiên tòa cho đến kết thúc phiên tòa, trong đó phần xét hỏi, tranh luận và nghị án là quan trọng nhất. Tuân theo các văn bản pháp luật khác có liên quan như Pháp luật dân sự và các văn bản luật chuyên ngành khác,.. c. Mối quan hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của thẩm phán và hội thẩm. Độc lập là biểu hiện của tuân theo pháp luật. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc là một phần nội dung của nguyên tắc. Thẩm phán và hội thẩm độc lập với nhau và độc lập với các yếu tố khác. Nếu Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, không chụi bất kì sự tác động nào thì phán quyết của Hội đồng xét xử mới có tính khách quan, vô tư, quyết định của Hội đồng xét xử mới đảm bảo đúng pháp luật.→Độc lập là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm tuân theo pháp luật. Tuân theo pháp luật là cơ sở để thể hiện tính độc lập trong xét xử. Xét ở khía cạnh thuần túy của tính độc lập, để có thể tự mình đưa ra phán quyết, Thẩm phán và hội thẩm phải có kiến thức pháp luật và phải chấp hành quy định của pháp luật. Khi nắm chắc kiến thức pháp luật, Thẩm phán và Hội thẩm có điều kiện để thể hiện sự độc lập trong 6 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam phán quyết của mình. Xét ở khía cạnh khác thì tuân theo pháp luật là đã loại trừ các tác động khác đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm, bởi vậy họ mới có được sự độc lập. Độc lập trong việc thống nhất với chỉ tuân theo pháp luật Độc lập nhưng phải dựa trên những quy định của pháp luật. Mọi kết luận của bản án, quyết định của Hội đồng xét xử phải phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án. Bản án phải xác định đúng người, đúng tội và đúng với các thiệt hại do hành vi phạm tội đã gây ra. Mỗi nhận định của bản án đều phải dựa trên những chứng cứ và tình tiết xác thực được thẩm tra tại phiên tòa có lập luận chặt chẽ, không kết luận dựa trân ý nghĩ chủ quan, cảm tính cá nhân của mỗi thành viên Hội đỗng xét xử. Yếu tố độc lập và chỉ tuân theo pháp luật không thể tách rời nhau. Từ những phân tích trên có thể thấy rằng yếu tố độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau, độc lập trong sự thống nhất với việc tuân theo pháp luật. xem ví dụ ở phân phụ lục 3. Ý nghĩa của nguyên tắc. Nguyên tắc Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án. Có thể khái quát ý nghĩa của nguyên tắc thành 3 nhóm như sau Ý nghĩa chính trị xã hội Nguyên tắc xác định vai trò, vị trí cơ quan Tòa án trong hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng. Chỉ có tòa án mới có quyền xét xử và khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Không một cá nhân, cơ quan nào được xen vào hoạt động xét xử của Tòa án cụ thể là Thẩm phán và Hội thẩm phải đảm bảo sự độc lập trên cơ sở chỉ tuân theo pháp luật không tuân theo bất cứ sự chỉ đạo nào khác ngoài pháp luật, trái pháp luật. “Quan chức” cũng như “thường dân” khi phạm tội đều bị đưa ra xét xử bởi Tòa án trên cơ sở những quy định của pháp luật mà không có đặc ân nào. Tư pháp độc lập là một trong những yếu tố để đảm bảo công bằng xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, pháp luật sẽ được chấp hành nghiêm chỉnh. “Độc lập xét cử có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo cho môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh vì khi đó các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ yên tâm rằng những tranh chấp đầu tư và hợp đồng kinh doanh của họ sẽ được bảo vệ 7 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam bởi một cơ chế tài phán xét xử độc lập, vô tư khách quan. Các quyền cơ bản của mỗi con người trong xã hội cũng sẽ được bảo đảm khi người cầm cân nảy mực thực sự độc lập xét xử những hành vi vi phạm các quyền đó. Độc lập xét xử cũng là một điều quan trọng để đảm bảo sự thành công cảu việc phòng chống tham nhũng bởi lẽ những kẻ tham nhũng sẽ không có cơ hội được bao che bởi sự can thiệp hoặc tác động vào quá trình xét xử của Tòa án. Hoạt động xét xử không phải là hoạt động của một cá nhân mà là hoạt động của tập thể, không chỉ là hoạt động của quan tòa mà còn có sự tham gia giám sát, tham gia xét xử của nhân dân thông qua những người đại diện cho họ, đó là Hội thẩm. Nguyên tắc gián tiếp thể hiện bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước do dân làm chủ, nhân dân tham gia giám sát các hoạt động của nhà nước, trong đó có hoạt động xét xử. Ý nghĩa pháp lý Nguyên tắc là cơ sở pháp lý để Thẩm phán và Hội thẩm tiến hành hoạt động xét xử khách quan, đúng pháp luật. Đây cũng là cơ sở đảm bảo Hiến pháp và pháp luật. Nói cách khác, pháp luật chỉ có ý nghĩa và có tác dụng khi nguyên tắc “độc lập xét cử” được tuân thủ một cách triệt để. Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử vừa là quyền, đồng thời cũng là nghĩa vụ của Thẩm phán và Hội thẩm. Ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật bảo đảm việc xét xử khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nguyên tắc này loại trừ các sự tác động không cần thiết, thậm chí tiêu cực của cơ quan, tổ chức khác đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm đảm bảo sự bình đẳng, độc lập giữa các thành viên của Hội đồng xét xử. Tóm lại, “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là một nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự. Nó đòi hỏi trong hoạt động xét xử, Thẩm phán và hội thẩm phải tự mình đưa ra các quyết định để giải quyết vụ án, không lệ thuộc và bất cứ yếu tố nào khác. Hoạt động xét xử phải đảm bảo đúng pháp luật vầ trình tự, thủ tục cũng như các quyết định đưa ra phải chính xác và có căn cứ pháp lý. Không một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được phép can thiệp và hoạt động xét xử của Tòa án. Độc lập xét xử được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của đa phần các nước trên thế giới. Điều đó một lần nữa khẳng định giá trị của nguyên tắc này trong hoạt động xét xử. 8 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam II. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO NGUYÊN TẮC. 1. Về cách thức tổ chức hệ thống Tòa án. Hệ thống tổ chức Tòa án phải độc lập so với các cơ quan nhà nước khác. Nếu tổ chức hệ thống tòa án độc lập thì sẽ nó không bị chi phối bởi các cơ quan nhà nước khác, không gắn quá nhiều sự ràng buộc với chính quyền địa phương và như thế khi xét xử sẽ có tính độc lập cao. Để đảm bảo được điều kiện này các nước trên thế giới thường tổ chức hệ thống tòa án theo chức năng của tòa án chứ không theo tiêu chí cấp hành chính. Ở nước ta, hệ thống tòa án lại được tổ chức theo cấp hành chính tuy có những ưu điểm như bám sát nhiệm vụ chính trị xã hội hay có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước thì bộc lộ những điểm bất cập như thiếu khách quan khi đối tượng xét xử là các quan chức nhà nước…Để khắc phục hạn chế này theo Nghị quyết 49 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị đã khẳng định “Tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính”. Đây là một định hướng đúng, không những đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án có hiệu quả mà còn đảm bảo được nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật. 2. Về cách thức quản lý Tòa án. Quản lý Tòa án được xem xét dưới hai góc độ là quản lý hành chính và quản lý chuyên môn nghiệp vụ. Trong hai lĩnh vực đó thì vấn đề quản lí hành chính tong hệ thống Tòa án là yếu tố quan trọng để đảm bảo nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật. Nếu Tòa án tối cao quản lý cả chuyên môn nghiệp vụ lẫn tổ chức hành chính thì tính độc lập dễ bị vi phạm, bởi - Việc tổ chức, quản lý hành chính ảnh hưởng đến lợi ích thiết thân của Thẩm phán và cán bộ Tòa án nên Tòa án cấp trên có thể lợi dụng thế này để can thiệp vào công việc chuyên môn xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm. - Thẩm phán, Hội thẩm cũng có thể dễ dàng chấp nhận những yêu cầu không khách quan của cấp trên vì tâm lý nể sợ cấp trên… Do đó, để đảm bảo cho nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật thì cần phải tách thẩm quyền quản lí hành chính cho một chủ thể khác. 3. Về ngân sách nhà nước và hoạt động xét xử 9 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam Bất cứ tổ chức, cơ quan nào muốn hoạt động tốt cũng phải có nguồn kinh phí chưa nói là nhiều nhưng cũng phải đủ. Nguồn kinh phí đó để trang bị cơ sở vật chất cho hoạt động của Tòa án nói chung và của hoạt động xét xử nói riêng. Tuy nhiên chính vì ý nghĩa của nguồn kinh phí mà nhiều khi Tòa án sẽ bị phụ thuộc vào cơ quan phân bổ ngân sách nhà nước. Mặt khác, ngân sách nhà nước chưa đủ để phục vụ cho hoạt động xét xử phải dựa vào nguồn hỗ trợ của địa phương dẫn đến nguyên tắc này không được đảm bảo. 4. Về hệ thống pháp luật Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật chỉ có thể được bảo đảm khi có hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ và phù hợp với đời sống kinh tế - xã hội làm nền tảng cho các phán quyết của Tòa án. Đặc biệt là khi pháp luật của ta không thừa nhận án lệ thì đòi hỏi hệ thống các văn bản pháp luật và văn bản hướng dẫn đầy đủ và kịp thời. Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thống pháp luật của ta vãn còn rất thiếu và yếu, không mang tính đồng bộ và thống nhất, gây khó khăn rất nhiều trong hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. 5. Về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Có thể nói đây là điều kiện hết sức quan trọng trong việc đảm bảo nguyên tắc này, trước hết, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải có trình độ chuyên môn, am hiểu kiến thức pháp luật thì mới có thể đánh giá vụ việc và biết lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp để giải quyết vụ án. Thứ hai, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải có tư cách đạo đức tốt, chí công vô tư thì xét xử mới khách quan. Muốn được như vậy thì phải có những cải cách như Nhiệm kỳ của Thẩm phán Nhiệm kỳ của Thẩm phán là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự độc lập của cá nhân Thẩm phán. Nếu Thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời hoặc với nhiệm kì dài thì tính độc lập của họ sẽ được bảo đảm hơn vì họ không phải đối mặt với vấn đề bầu lại hoặc tái nhiệm thường xuyên và như vậy sẽ bị ảnh hưởng từ cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm. Về tiền lương và chế độ đãi ngộ Vấn đề tiền lương và chế độ đãi ngộ được đảm bảo sẽ giúp cho Thẩm phán yên tâm công tác và không nảy sinh mục đích tư lợi dẫn đến thiếu công tâm trong quá trình xét xử. Về cơ chế bảo đảm tính mạng, sức khỏe, danh dự Thẩm phán và thành viên gia đình họ Có thể nói ngề nghiệp của một Thẩm phán được xem là “nghề nguy hiểm”, do tính chất của hoạt động xét sử mà Thẩm phán có thể bị đe dọa về tính mạng, sức khỏe. 10 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam Thẩm chí cả gia đình họ cũng bị nguy hiểm. Nếu vấn đề này không được quan tâm thì Thẩm phán sẽ không dám phán quyêt khách quan vì sợ người phạm tội trả thù hay đe dọa. Về trình độ, năng lực Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân Đây cũng là vấn đề hết sức quan trọng. Bản thân họ phải là những người thực sự có năng lực, phải tự tin vào những phán quyết của mình thì mới có thể độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Không những vậy, bản thân Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải có lương tâm, đạo đức nghề nghiệp thì mới công tâm trong quá trình xét xử. III. THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động xét xử của Tòa án và được ghi nhận từ rất sớm trong Hiến pháp và pháp luật. Trên thực tế, nguyên tắc này đã được các chủ thể của hoạt động xét xử tuân thủ và ngày càng phát huy ý nghĩa tích cực của nguyên tắc, đảm bảo hoạt động xét xử của Tòa án được khách quan, đúng pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều biểu hiện của việc làm trái nguyên tắc, ảnh hưởng đến chất lượng xét xử của Tòa án, xâm phạm đến quyền và lợi ích của công dân, gây dư luận xấu và bất bình trong quần chúng nhân dân. 1. Một số biểu hiện của việc không độc lập và tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm. Thứ nhất, hoạt động xét xử chủ yếu là hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm chưa phát huy hết quyền năng được giao khi thực hiện nhiệm vụ xét xử. Trên thực tế, sự quá “chủ động” của Thẩm phán là cho Hội thẩm ở vào trình trạng lệ thuộc, thiếu chủ động trong quá trình chứng minh tội phạm và cũng chính vì thế khi đưa ra phán quyết, Hội thẩm cũng chỉ là người quyết định theo Thẩm phán. Nói cách khác, pháp luật ghi nhận Hội thẩm có quyền độc lập trong xét xử và chỉ tuân theo pháp luật nhưng bản thân một số vị Hội thẩm không phát huy được quyền này dẫn đến tình trạng Hội thẩm tham gia xét xử chỉ là hình thức, mọi phán quyết đều phụ thuộc vào ý chí Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Thứ hai, Thẩm phán và Hội thẩm quá lệ thuộc vào kết quả điều tra ban đầu, tức là lệ thuộc những thông tin, tài liệu có trong vụ án. Thứ ba, có sự thống nhất chứng cứ và định hướng trước việc xét xử. Đó là việc họp án ba ngành, họp bản án trong nội bộ cơ quan, thỉnh thị án cấp trên trước khi xét xử. 11 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam Việc họp ba ngành Công an, Viện kiểm sát trước khi xét xử không được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, mà chỉ là tiền lệ của ngành tòa án nhằm mục đích áp dụng thống nhất pháp luật. Tuy nhiên, có trường hợp lạm dụng việc “thỉnh thị” án và họp bản án ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm. Việc thỉnh thị án tạo nên tâm lý cấp dưới ỷ lại cấp trên, không có sự độc lập trong quyết định của mình, vi phạm nguyên tắc nói trên ngay t ừ chính chủ thể của hoạt động xét xử. Thứ tư, có sự tác động của từ các nhân tố bên ngoài đến hoạt động xét xử của các Thẩm phán và Hội thẩm. Các nhân tố bên ngoài ở đây có thể là Chánh án, các cấp ủy Đảng vụ đất đai Đồ Sơn năm 2006 là một ví dụ rất điển hình về sự tác động của cấp ủy Đảng tới hoạt động xét xử, các cơ quan báo chí, dư luận Gần đây ta có thể thấy vụ án điển hình được dư luận rất quan tâm đến đó là vụ án “Nông trường Sông Hậu” của bà Trần Ngọc Sương, chúng ta chưa bàn tới việc có sai sót gì trong việc xét xử của Tòa án không mà chỉ bàn tới vấn đề khi bản án được tuyên cho bà Sương thì báo chí và dư luận đã lên tiếng rất nhiều mà cụ thể có tới 110 người dân xin đi tù thay cho bà Sương theo rồi báo chí đề cập rất nhiều, và sức mạnh của báo chí và dư luận đã buộc nhiều cơ quan có thẩm quyền phải lên tiếng nhằm xem xét lại vụ án này, các cá nhân tổ chức khác những người tham gia tố tụng, các cơ quan nhà nước khác,… b. Nguyên nhân của thực trạng trên. Nguyên nhân từ yếu tố pháp luật Để Thẩm phán, Hội thẩm xét xử chỉ tuân theo pháp luật, cần phải có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật. Có những hướng dẫn kịp thời nhưng cũng có những vấn đề chưa được hướng dẫn gây khó khăn cho hoạt động xét xử. Bên cạnh đó, một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự như các quy định về giới hạn xét xử, về nghị án, về chế độ tòa án xét xử tập thể…cũng gây ra những ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện nguyên tắc. Nguyên nhân từ yếu tố chuyên môn nghiệp vụ Nói đến yếu tố chuyên môn nghiệp vụ chủ yếu nói đến trình độ chuyên môn. Trình đồ chuyên môn yếu dẫn đến tình trạng một số Thẩm phán mới còn bị động, lúng túng trong việc điều khiển phiên tòa, xử lý các tình huống phát sinh tại phiên tòa. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật mà nhận thức pháp luật lại không đúng thì việc “chỉ tuân theo pháp luật” ngược lại sẽ gây ra những hậu quả hết sức tai hại. 12 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam Nguyên nhân từ yếu tố đạo đức nghề nghiệp đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến oan sai, thiếu công bằng trong xét xử. Ngày nay, khi cơ chế thị trường ngày càng tác động mạnh vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, nếu Thẩm phán, Hội thẩm không bình tĩnh trước sự cám dỗ của đồng tiền thì sẽ sinh đại họa cho nhân dân. Nguyên nhân từ việc tổ chức và hoạt động của tòa án hiện nay tòa án nhân dân được tổ chức như một cơ quan hành chính nhà nước với cơ cấu tòa cấp trên tòa cấp dưới. Thẩm phán cũng là một cán bộ công chức bình thường, là nhân viên dưới quyền quản lý của chánh án. Như vậy, bên cạnh việc tuân thủ pháp luật trong khi làm nhiệm vụ thẩm phán xòn chịu sự chỉ đạo của chánh án, thẩm phán cũng bị áp dụng các biện pháp khen thưởng, kỉ luật. Điều này gây ảnh hưởng rất lớn tới sự độc lập của thẩm phán khi xét xử. Bên cạnh đó thẩm phán còn phải giữ mối quan hệ tốt với nhiều cơ quan khác, hay việc bàn bạc ba bên trước khi xét xử cũng ảnh hưởng lớn tới nội dung xét xử và kết quả bản án, Từ sự trình bày ở trên chúng ta cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau để nhằm hoàn thiện việc thực hiện tốt nguyên tắc này trong thực tiễn xét xử. Thứ nhât là cần phải ban hành kịp thời nhưng văn bản hưỡng đẫn chi tiêt và cụ thể hơn nữa, để việc xét xử thống nhất. Thứ hai cần phải đẩy mạnh công tác bồ dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cho các thẩm phán và hội thẩm, đặc biêt là hội thâm nhân dân. Để nhưng người làm hội thẩm nhân dân trở thành nhưng người thực sự am hiểu pháp luật có trình độ chuyên cao. Thứ bà là đây mạnh tuyên truyền bồ dưỡng nâng cao đạo đực nghề nghiệp cho các thẩm phán cũng như hội thâm nhân đân, để họ thực sự trở thành nhưng người nắm giữ cán cân công lý đem sự công bằng nhân đân cũng như toàn xã hôi. Cuối cùng là cần phải đẩy mạnh công tác thanh tra, kiêm tra giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời nhưng biểu hiên tiêu cực trong hoạt động xet xử./. 13 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO * * * 1. Trường đại học Luật Hà nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2006; 2. Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001; 3. Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003; 4. Trường đại học Luật Hà Nội, Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. CAND, Hà Nội, 2004; 5. Ts. Nguyễn Ngọc Chí, Một số yếu tố ảnh hư ởng tới nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2/2009 6. Từ Thị Hải Dương, Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xet xử độc lập và chi tuân theo pháp luật, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà nội 2009. 14 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam Phụ lục Những góc khuất ẩn sau quá trình truy tố, xét xử vụ chia chác đất công ở Đồ Sơn, Hải Phòng đang dần lộ sáng sau những phản ứng gay gắt của dư luận và công luận. Đó là sự can thiệp của lãnh đạo Thành uỷ, UBND thành phố Hải Phòng… Vụ chia chác đất công ở Đồ Sơn, Hải Phòng là một trong 10 vụ án tham nhũng lớn về đất đai năm 2005, được dư luận hết sức quan tâm theo dõi việc xử lý những cá nhân sai phạm. Thế nhưng, ngày 28/8 vừa qua, trong phiên xét xử sơ thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tuyên một mức án mà dư luận gọi là "như đùa". Ba bị cáo nguyên là lãnh đạo thị xã Đồ Sơn chỉ bị mức án cảnh cáo. Ông Chu Minh Tu ấn - nguyên Giám đốc Sở Tài nguyên - Môi trường Hải Phòng, người có vai trò rất lớn trong vụ án này lại được miễn truy tố. Những góc khuất ẩn sau quá trình truy tố, xét xử đang dần lộ sáng sau những phản ứng gay gắt của dư luận và công luận. Đó là sự can thiệp của lãnh đạo Thành uỷ, UBND thành phố Hải Phòng. Đây là vụ điển hình của việc vi phạm nguyên tắc tố tụng, không đảm bảo tính độc lập trong xét xử và phán quyết của toà án. Toà xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là vấn đề cốt lõi của hoạt động tư pháp và đã được qui định trong Hiến pháp nhằm đảm bảo công bằng, kỷ cương và sự nghiêm minh của pháp luật. Thế nhưng trên thực tế nguyên tắc này vẫn bị vi phạm. Theo một nghiên cứu, người thẩm phán khi xét xử thường chịu cảnh "trên đe, dưới búa", phải chịu tác động từ nhiều phía, từ bên ngoài xã hội, các đương sự, bị cáo, nhưng đáng ngại nhất là những tác động từ những cán bộ cấp trên. Cán bộ trong ngành toà án gọi đó là những "siêu toà". Ông Dương Văn Thành, Phó Chánh án Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, Chủ toạ phiên toà xét xử sơ thẩm vụ chia chác đất đai ở Đồ Sơn đã bày tỏ trên báo chí rằng "Cấp trên đã có đề nghị xin thì mình làm khác cũng khó. Xếp đã có ý kiến thì mình phải tuân theo". "Xếp" ở đây là lãnh đạo thành uỷ, UBND thành phố Hải Phòng. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh trong buổi nói chuyện với cán bộ, đảng viên tỉnh Bình Phước trong chuyến thăm địa phương này mới đây đã khẳng định lại nguyên tắc "Đảng lãnh đạo, chỉ đạo bằng đường lối, chủ trương và cũng phải tuân theo pháp luật. Cấp uỷ Đảng không được can thiệp, chỉ đạo cụ thể toà án việc xét xử mức án". Vì vậy, để đảm bảo nguyên tắc độc lập trong xét xử của toà án, trước hết phải ngăn chặn việc lợi dụng danh nghĩa tổ chức đảng, lãnh đạo cấp trên để can thiệp vào công việc chuyên môn của toà án vì động cơ cá nhân. Ai vi phạm phải bị xử lý nghiêm minh. 15 Bài tập nhóm số 1 Luật tố tụng hình sự Việt Nam Phiên toà sơ thẩm xét xử vụ tham nhũng đất đai ở Đồ Sơn cũng cho thấy rõ những yếu kém về trình độ nghiệp vụ và đặc biệt là bản lĩnh của đội ngũ cán bộ trong ngành tư pháp. Cán bộ tư pháp không đủ trình độ, bản lĩnh, dũng cảm nên không dám quyết những vấn đề mà đáng lẽ ra mình hoàn toàn có thể căn cứ vào luật mà quyết. Cho nên cứ phải tham khảo, xin ý kiến chỗ này chỗ kia dẫn đến việc bị chi phối, lợi dụng. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong buổi làm việc với Toà án nhân dân tối cao sau khi dư luận lên tiếng về việc xét xử không nghiêm minh vụ tham nhũng đất đai ở Đồ Sơn đã yêu cầu ngành toà án phải tập trung đào tạo cán bộ đáp ứng tiêu chuẩn vừa giỏi chuyên môn, vừa có bản lĩnh, vừa có tâm - có đức. Ai không đáp ứng được yêu cầu này phải được điều chuyển công tác khác. Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi người sống và làm theo pháp luật. Nếu không ngăn chặn được hành vi vi phạm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng và không xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp giỏi chuyên môn, có bản lĩnh thì những cái gọi là "siêu toà", can thiệp vào quá trình tố tụng như vụ Đồ Sơn, Hải Phòng chắc vẫn còn tiếp diễn./. Từ thi thi hai duong luan van thac si luat h ọc “ nguyên tăc tham phan và hôi thâm xet …. ha nooi2009. 16 320 tài liệu 1186 lượt tải
1. Chọn chủ đề tiểu luận luật tố tụng hình Bình Luận Quy Định Của Pháp Hướng dẫn thực hiện Một số đề tài tham Nghiên Cứu Dựa Trên Tình Huống Pháp Lý2. Hướng dẫn cách trình bày bài viếtVí dụ Lê Vinh Danh 2009, Tiền và hoạt động ngân hàng, NXB Giao thông vận tải Bạn đang gặp vấn đề trong bài Tiểu Luận Về Môn Luật Tố Tụng Hình Sự, bạn đang chưa có ý tưởng định hướng gì cho đề bài của mình, bạn đang mong muốn tìm một bài hướng dẫn về cách viết một bài tiểu luận và lựa chọn đề tài phù hợp vừa có tính thiết thực, vừa có chiều sâu? Bạn đừng lo lắng vì có chúng tôi ở đây, chúng tôi sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề này. Chúng tôi gửi đến bạn Mẹo Viết Tiểu Luận Về Môn Luật Tố Tụng Hình Sự và một số đề tài tiêu biểu hiên nay. Và hy vọng bài viết này của chúng tôi sẽ giúp các bạn định hướng và hoàn thành bài tiểu luận Về Môn Luật Tố Tụng Hình Sự một cách tốt nhất. Nếu các bạn vẫn còn khó khăn về bài tiểu luận của mình thì hãy liên hệ với dịch vụ viết tiểu luận trọn gói của Luận Văn Tốt bạn nhé Zalo/tele 0934573149. Sinh viên được tuỳ ý chọn chủ đề để viết tiểu luận, theo một trong hai hướng sau đây Bình Luận Quy Định Của Pháp Luật Hướng dẫn thực hiện Để thực hiện đề tài theo hướng bình luận pháp luật, sinh viên cần lựa chọn một vấn đề mà sinh viên cho rằng cần phải bình luận quy định đó và hướng tới việc tìm ra được giải pháp hoàn thiện quy định đó. Cấu trúc bài viết thông thường phải đảm bảo những nội dung sau đây Xác định được vấn đề nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu vấn đề nghiên cứu phải là một vấn đề pháp lý. Trả lời được các câu hỏi nghiên cứu đã nêu ra bằng các luận điểm, luận cứ và luận chứng chặt chẽ thông qua việc phân tích một hoặc vài vụ việc, tình huống hoặc bản án để làm rõ những quy định của pháp luật đó, qua đó làm rõ những bất cập, hạn chế hay có đánh giá về vấn đề pháp lý. Nêu những nhận định, nhận xét hay kiến nghị của tác giả đối với vấn đề pháp lý mà mình nghiên cứu. Một số đề tài tham khảo Hoạt động kê biên tài sản trong tố tụng hình sự Hoạt động đối chất trong tố tụng hình sự Hoạt động nhận dạng trong tố tụng hình sự Hoạt động khám xét trong tố tụng hình sự Thay đổi người tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự Sự tham gia của người làm chứng trong vụ án hình sự Sự tham gia của người bào chữa trong vụ án hình sự Cấm đi khỏi nơi cư trú trong tố tụng hình sự Bảo lĩnh trong tố tụng hình sự Phong tỏa tài khoản trong tố tụng hình sự Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo trong tố tụng hình sự Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của cơ quan điều tra thuộc Bộ công an Thủ tục tố tụng đối với pháp nhân phạm tội Bị hại là pháp nhân trong tố tụng hình sự Thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử trong chứng minh tội phạm Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung Quyền được im lặng trong TTHS Chế định mặc cả nhận tội trong luật pháp nước ngoài Bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan trong tố tụng hình sự. Ghi âm, ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can Nguyên tắc “cây độc sinh trái độc” trong chứng cứ Cảnh báo Miranda Nghiên Cứu Dựa Trên Tình Huống Pháp Lý Để thực hiện đề tài theo nghiên cứu dựa trên tình huống pháp lý, sinh viên cần lựa chọn được một tình huống pháp lý có vấn đề. Tình huống pháp lý được lựa chọn có thể là tình huống phát sinh trong thực tiễn cuộc sống mà sinh viên tiếp cận được, vấn đề mà sinh viên cho rằng cần phải bình luận quy định đó và hướng tới việc tìm ra được giải pháp hoàn thiện quy định đó. Cấu trúc bài viết thông thường phải đảm bảo những nội dung sau đây Tóm tắt tình huống cần phân tích. Xác định những vấn đề pháp lý cần giải quyết. Xác định quy định của pháp luật có liên quan phục vụ cho việc giải quyết tình huống Nêu cách thức giải quyết tình huống đó. Những quan điểm khác nhau hoặc những tranh luận, ý kiến khác nhau trong việc giải quyết vụ việc. Đưa ra nhận định, nhận xét hay kiến nghị của tác giả đối với vấn đề pháp lý mà mình nghiên cứu. Mẹo Viết Tiểu Luận Về Môn Luật Tố Tụng Hình Sự XEM THÊM Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế 2. Hướng dẫn cách trình bày bài viết Không kể trang bìa, lời cám ơn, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của bài viết có độ dài từ 2000 – 3000 từ khoảng 7 -9 trang A4, font chữ Arial, cỡ chữ 13, dãn dòng dãn đoạn before 3, after 3, canh lề trái là 3 cm, trên, dưới, phải là cm. Sinh viên nộp đồng thời 2 hai file word và pdf đã quét turnitin. Bài viết nộp cho GV cần đảm bảo không vi phạm quy chế đạo văn, tuân thủ yêu cầu về trích dẫn. Nội dung bài viết cần bao gồm các nội dung Giới thiệu không quá 5 dòng Nội dung bài viết Danh mục tài liệu tham khảo không ít hơn 5 tài liệu tham khảo và chỉ những tài liệu tham khảo có sử dụng footnote thì mới được tập hợp tại danh mục này. Việc tham khảo càng nhiều tài liệu càng được khuyến khích. HƯỚNG DẪN TRÍCH DẪN TÀI LIỆU THAM KHẢO BẰNG FOOTNOTE. Footnote là công cụ giúp tác giả chú thích một số thuật ngữ ở dưới trang tài liệu hoặc dẫn nguồn tài liệu tham khảo nội dung vừa trình bày. Để làm được điều này các bạn cần qua các bước sau Đặt con trỏ sau ý hoặc từ cần chú thích. Vào references/ insert footnote nếu word 2003 thì vào menu Insert/Footnote. Ví dụ Từ footnote màu đỏ[1] ở trên đã được giải thích ở dưới trang. Khi tác giả dàn lại trang, các ý hoặc từ đã footnote có thể sẽ chuyển qua trang khác, lúc đó footnote cũng tự động dịch chuyển theo. HƯỚNG DẪN SẮP XẾP TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tham khảo được xếp riêng theo từng ngôn ngữ Việt, Anh, Pháp, …. Các tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải giữ nguyên văn, không phiên âm, không dịch, kể cả bằng tiếng Trung Quốc, Nhật, … Tài liệu tham khảo xếp theo thứ tự ABC họ tên tác giả theo thông lệ của từng nước – Tác giả là người nước ngoài xếp thứ tự ABC theo họ. – Tác giả là người Việt Nam xếp thứ ABC theo tên nhưng vẫn giữ nguyên thứ tự thông thường của tên người Việt Nam, không đảo lên trước họ. – Tài liệu không có tên tác giả thì xếp theo thứ tự ABC từ đầu của tên cơ quan ban hành báo các hay ấn phẩm, ví dụ Tổng cục thống kê xếp vào vần T, Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp vào vần B, … Tài liệu tham khảo là sách, luận văn, luận án, báo cáo phải ghi đầy đủ các thông tin sau – Tên tác giả hoặc cơ quan ban hành không có dấu ngăn cách – năm xuất bản, đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn – tên sách, luận văn, luận án hoặc báo cáo, in nghiên, dấu phẩy cuối tên – nhà xuất bản, dấu phẩy cuối tên nhà xuất bản – nơi xuất bản, dấu chấm kết thúc tài liệu tham khảo. Ví dụ Lê Vinh Danh 2009, Tiền và hoạt động ngân hàng, NXB Giao thông vận tải Tài liệu tham khảo là bài báo trong tạp chí, bài trong một cuốn sách … ghi đầy đủ các thông tin sau – tên các tác giả không có dấu ngăn cách – năm công bố, đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn – “tên bài báo”, đặc trong ngoặc kép, không in nghiên, dấu phẩy cuối tên – tên tạp chí hoặc tên sách, in nghiên, dấu phẩy cuối tên – tập không có dấu ngăn cách – sổ, đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn – các số trang, gạch ngang giữa hai chữ số, dấu chấm kết thúc VÍ DỤ VỀ LIỆT KÊ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Ở CUỐI BÀI VIẾT Tiếng Việt Nguyễn Xuân Bang 2011, Một số vấn đề pháp lý về các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động của các TCTD, Tạp chí Khoa học pháp lý, Trường Đại học Luật TP. HCM, số 2, Trang 34-40. Lê Vinh Danh 2009, Tiền và hoạt động ngân hàng, NXB Giao thông vận tải. Nguyễn Trọng Điệp 2007 – Cơ sở khoa học của các quy định về tình trạng phá sán trong luật phá sản 2004 – Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7, trang 51-57. Phạm Hoài Huấn chủ biên 2019 – Luật doanh nghiệp Việt Nam Tình huống -Dẫn giải – Bình luận, NXB Chính trị quốc gia. Frederic 1999, Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội. Tiếng Anh Bliss, Robert R. và Kaufnan George G. 2006, A Comparion of Corporate and Bank Insolvency Reluation, Economic Perspective, FRB of Chicago Working Paper. Bob Wessels 2006 – Banks in distress under rules of European insolvency law – Journal of International Banking Law And Regulation 2006, pp. 301-308. Charles Jordan Tabb 1995, The history of bankruptcy law in United states , Abi Law Review Vol 35, pp 5-51, có thể tải về từ [1] Đã chú thích Trên đây là Mẹo Viết Tiểu Luận Về Môn Luật Tố Tụng Hình Sự, 10 Điểm. Chúng tôi đã thu thập những thông tin, kiến thức, những nghiên cứu về chủ đề này trên các nguồn uy tín và có thêm những sự sáng tạo, cập nhật để phù hợp với tình hình hiện nay của đất nước. Chúng tôi hy vọng những gì chúng tôi chia sẻ bên trên sẽ giúp đỡ cho bài làm của bạn. Chúc bạn có một bài tiểu luận hay, ấn tượng và có tính thực tiễn cao. Nếu gặp khó khăn trong việc làm bài hãy liên hệ Luận Văn Tốt qua hotline zalo/tele 0934573149 nhé. Post Views 499
Luật hình sự trong thời điểm hiện tại đang là vấn đề nhạy cảm của xã hội. Chính vì vậy, yêu cầu để có một bài tiểu luận luật hình sự cũng không hề dễ dàng. Để các bạn có nhiều kinh nghiệm trong việc lựa chọn và nghiên cứu, bài viết dưới đây sẽ giới thiệu đến bạn top 6 mẫu tiểu luận về luật hình sự chi tiết nhất, hãy cùng theo dõi nhé. Mục lục 1. Tiểu luận về kỹ năng luật sư với các vụ án hình sự 2. Tiểu luận Nội dung pháp lý cơ bản của luật hình sự EU 3. Tiểu luận về các biện pháp ngăn chặn tố tụng hình sự 4. Tiểu luận luật hình sự về tội đánh bạc 5. Tiểu luận luật tố tụng hình sự 6. Tiểu luận chủ đề luật hình sự về tòa án hình sự quốc tế 7. Trọn bộ 30 đề tài tiểu luận luật hình sự cập nhật mới nhất 8. MÁCH bạn 3 cách để chọn được đề tài ưng ý nhất Dựa vào độ hiểu biết của bạn Đề tài có tính thực tiễn cao Đề tài có tính mới mẻ 1. Tiểu luận về kỹ năng luật sư với các vụ án hình sự Đề tài Kỹ năng của luật sư trong các vụ án hình sự Ở tiểu luận luật hình sự này, nhóm sinh viên đã tập trung nghiên cứu kỹ năng của luật sư trong hoạt động đánh giá và nghiên cứu chứng cứ. Trong đó bao gồm Khái niệm về chứng cứ, về đánh giá và sử dụng chứng cứ bằng những quy định cụ thể đi cùng dẫn chứng rõ ràng. Qua những phân tích trên, bài luận cho thấy kỹ năng của luật sư vô cùng quan trọng trong việc đánh giá vụ án hình sự, bảo đảm lợi ích hợp pháp cho thân chủ. Bài tiểu luận luật hình sự vô cùng trọng tâm, mang tính thực tiễn cho bạn tham khảo. Link tải tài liệu miễn phí Đọc thêm tiểu luận luật sở hữu trí tuệ 2. Tiểu luận Nội dung pháp lý cơ bản của luật hình sự EU Tiểu luật luật hình sự Các nội dung pháp lý cơ bản của Luật tố tụng Hình sự EU Bài tiểu luận về luật hình sự này đã xuất sắc đạt được điểm cao của giáo viên khi tập trung phân tích đánh giá đúng vấn đề về luật với 3 chương cụ thể Chương 1 Khái quát chung về luật tố tụng hình sự Liên minh châu Âu Chương 2 Nội dung cụ thể của luật tố tụng hình sự Liên minh châu Âu bao gồm khung pháp luật chung, các chế định và văn kiện pháp lý, sự công nhận lẫn nhau bằng những phân tích chính xác. Chương cuối cùng nhóm sinh viên thực hiện so sánh với pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam với những ưu điểm và hạn chế. Cuối cùng tiểu luận luật hình sự đi đến tổng kết. Link tải tài liệu miễn phí 3. Tiểu luận về các biện pháp ngăn chặn tố tụng hình sự Đề tài Các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự - Đại học Ngoại ngữ Tin học TPHCM Nhóm sinh viên hoàn thành tiểu luận môn luật hình sự với bố cục, nội dung xuất sắc, nhận được nhiều lời khen tích cực từ giáo viên. Các bạn đã đi sâu phân tích, trình bày về tóm tắt bản án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi - Bản án 46/2019/HS-PT ngày 27/9/2019. Từ đó đưa ra kết luận về tội hủy hoại tài sản, bình luận vấn đề pháp lý của bản án. Nhóm nghiên cứu cũng đi đưa ra khái niệm, phân loại, ý nghĩa, kiến nghị, ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn qua từng chương cụ thể. Nếu đang học chuyên ngành luật hình sự, đây chắc chắn là tiểu luận luật hình sự đáng tham khảo. Link tải tài liệu miễn phí 4. Tiểu luận luật hình sự về tội đánh bạc Đề tài tiểu luận luật hình sự Tội đánh bạc trong luật hình sự Việt Nam Đây là tiểu luận về tội phạm trong luật hình sự với tôi danh đánh bạc. Nhóm sinh viên đã nghiên cứu đề tài với 3 chương lớn Chương 1 tập trung phân tích, đánh giá về mặt lý luận về tội đánh bạc trong luật hình sự Việt Nam với khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân điều kiện phạm tội, lịch sử phát triển tội đánh bạc trong luật hình sự. Chương 2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội đánh bạc với dấu hiệu pháp lý, mặt khách quan và mặt chủ thể của tội đánh bạc. Đặc biệt, bài tiểu luận luật hình sự đã nêu được những trường hợp phạm tội cụ thể giúp người đọc có thể hình dung rõ hơn. Chương 3 Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về tội đánh bạc. Tình hình phạm tội trong phạm vi cả nước được khái quát, qua đó thấy được những khó khăn và bất cập khi áp dụng luật hình sự. Từ đó rút ra bài học cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm đánh bạc. Link tải tài liệu miễn phí 5. Tiểu luận luật tố tụng hình sự Đề tài Tiểu luận luật tố tụng hình sự Việt Nam Tiểu luận luật hình sự cụ thể nói về luật tố tụng tại Việt Nam, nhóm sinh viên nghiên cứu 3 chương xoay quanh luật Chương 1 Nội dung ý nghĩa của nguyên tắc Khái quát chung, nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc xoay quanh thẩm phán và hội thẩm xét xử. Chương 2 của tiểu luận luật hình sự phân tích những điều kiện đảm bảo nguyên tắc. Nội dung bao gồm cách thức tổ chức, cách thức thức quản lý, ngân sách nhà nước, hệ thống pháp luật, thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Chương cuối nêu thực tiễn áp dụng nguyên tắc thông qua biểu hiện của việc không độc lập và tuân theo pháp luật của Hội thẩm và thẩm phán. Link tải tài liệu miễn phí 6. Tiểu luận chủ đề luật hình sự về tòa án hình sự quốc tế Tiểu luận luật hình sự Tìm hiểu tòa án hình sự quốc tế Sinh viên thực hiện nghiên cứu về tòa án hình sự quốc tế sẽ mang đến đề tài mới lạ, tạo được ấn tượng tốt khi nêu bật ba Tòa hình sự quốc tế vẫn đang trong quá trình hoạt động gồm The International Criminal Court ICC giới thiệu quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động, thẩm quyền của ICC, tình huống Congo giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động và giải quyết của tòa. International Criminal Tribunal for the former Yugoslavia ICTY với tên gọi tòa hình sự quốc tế Nam Tư. Giống với tòa trên, tiểu luận luật hình sự đưa ra cơ cấu tổ chức, thời gian thành lập, nguyên tắc hoạt động của ICTY, thẩm thẩm quyền của tòa án ICTY, thực tế xét xử của tòa qua tình huống năm 2001 vô cùng chi tiết. The International Criminal Tribunal for Rwanda ICTR được giới thiệu thiệu qua vài nét chính, cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động, thẩm quyền xét xử của ICTR, bài học liên quan tới hòa bình và công lý… Cuối cùng cùng đi đến kết luận khi so sánh cả ba tòa với những điểm mạnh điểm yếu. Bạn có thể tham khảo nếu đang có ý tưởng về luật hình sự quốc tế. Link tải tài liệu miễn phí 7. Trọn bộ 30 đề tài tiểu luận luật hình sự cập nhật mới nhất Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam - Lý luận và thực tiễn Đề tài tội giết người với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Tiểu luận luật hình sự và luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bình luận bộ luật hình sự các tội phạm về ma túy Tiểu luận về luật hình sự Tội loạn luân trong luật hình sự Việt Nam. Những vấn đề lý luận và thực tiễn Luật hình sự dấu hiệu tội phạm, các yếu tố cấu thành tội phạm Thực trạng việc áp dụng các hình thức pháp lý trong luật hình sự năm 2015 trong thực tiễn hiện nay Tiểu luận phân tích vấn đề quy định chung về hợp đồng thuê tài sản tại bộ luật hình sự năm 2015 Tiểu luận về luật hình sự Thực trạng việc áp dụng các chế tài xử phạt trong bộ luật hình sự năm 2015 về tội xâm hại tình dục Định hướng, dự án phát triển thay đổi các điều khoản về tài sản được quy định tại bộ luật hình sự năm 2015. Đề tài yếu tố tác động và ảnh hưởng trực tiếp tới các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam về luật hình sự trong bối cảnh xã hội hiện đại Tiểu luận phân tích hợp đồng tài sản trong bộ luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng vào các vụ án hình sự. Tiểu luận luật hinh sự nêu vai trò và tầm quan trọng của bộ luật hình sự Việt Nam trong hệ thống pháp luật Bài tiểu luận mẫu về luật hình sự Những tồn động cần khắc phục trong thực hiện, áp dụng các mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay. Vấn đề triển khai, áp dụng luật hình sự về thế chấp tài sản trong xã hội - thực trạng và giải pháp Phân tích các mối quan hệ giữa luật hình sự với chuyên ngành luật khác trong hệ thống pháp luật nước CHXHCNVN Giải pháp nâng cao nhận thức con người về các quy định trong bộ luật hình sự về tai tệ nạn xã hội Tiểu luận luật hình sự Chính sách của Đảng và nhà nước trong việc đề ra chính sách, chủ trương đối với việc cải tiến bộ luật hình sự của nước ta phù hợp với bản chất xã hội. Đề tài trình bày và phân tích quy trình ban hành bộ luật hình sự của nước CHXHCNVN - đưa ra quan điểm cá nhân của mình. Chủ đề phân tích các quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy được nêu trong bộ luật hình sự năm 2015. Tiểu luận môn luật hình sự Quy phạm đạo đức trong chế tài xử phạt hành vi tử hình đối với trường hợp tội phạm ấu dâm Chủ đề vai trò và tầm quan trọng của các chế tài xử phạt về tội phạm cưỡng bức, hiếp dâm trẻ em dưới 18 tuổi trong quản lý đời sống xã hội Phân biệt hành vi tự tử, tự sát được quy định trong luật hình sự - chỉ ra ưu điểm, hạn chế Tiểu luận luật hình sự Phân biệt hành vi tự tử, tự sát được quy định trong bộ luật hình sự Việt Nam Đề tài phân tích các quy định về tội xâm phạm an ninh quốc gia được quy định tại bộ luật hình sự năm 2015 Vai trò và tầm quan trọng của luật hình sự đối với việc quản lý và xây dựng đời sống xã hội văn minh, hiện đại Thực tiễn hoạt động của tòa án hình sự quốc tế ICC vào thực tiễn Việt Nam Tìm hiểu tòa án hình sự quốc tế Potx Tiểu luận về luật hình sự Thẩm quyền của tòa án hình sự quốc tế Phân tích các vấn đề pháp lý và thực tiễn xét xử các cá nhân được coi là tội phạm quốc tế tại một thiết chế tài phán quốc tế. 8. MÁCH bạn 3 cách để chọn được đề tài ưng ý nhất Ở bất kỳ bài tiểu luận nào cũng yêu cầu sinh viên cần tìm hiểu chi tiết, chọn đề tài đủ rộng để bài tiểu luận luật hình sự được hoàn chỉnh. Dưới đây là những “mẹo” giúp bạn chọn được chủ đề ưng ý, gây ấn tượng với người đọc Dựa vào độ hiểu biết của bạn Đây là mẹo viết tiểu luận luật hình sự nói riêng hay bất kỳ ngành nào để quyết định độ thành công của bài nghiên cứu. Qua bài tiểu luận sẽ xác định được bạn muốn nghiên cứu điều gì và thể hiện nó ra sao. Hãy cho người đọc thấy bạn có sự am hiểu chắc chắn về vấn đề. Bởi chỉ khi bạn thực sự tìm và hiểu được đúng đề tài, đúng thế mạnh thì bản thân mới có thể làm tốt nhất, đúng trọng tâm nhất. Chính vì vậy, hãy tìm cho mình đề tài phù hợp với mình nhé. Đề tài có tính thực tiễn cao Nội dung bài tiểu luận cần liên quan đến môn học , góp phần giải đáp, mở rộng nâng cao kiến thức về một vấn đề khoa học thuộc môn học. Người nghiên cứu cần đưa ra ý kiến riêng về vấn đề khoa học mang tính thực tiễn trong suốt quá trình làm tiểu luận. Có thể đưa ra số liệu thống kê, dẫn chứng cụ thể, nghiên cứu đáp ứng giải quyết vấn đề trong xã hội. Đề tài có tính mới mẻ Tiểu luận luật hình sự nói riêng và tiểu luận ở bất kỳ vấn đề nào cũng cần có tính mới mẻ. Bởi bài nghiên cứu này đòi hỏi nhiều thời gian tìm tòi và đánh giá các nguồn thông tin, đưa ra các diễn giải về sự kiện, tình huống, hiện tượng. Chính vì vậy, mục tiêu của bài tiểu luận không phải liệt kê cho người đọc những quan điểm về chủ đề đặt ra. Nhiệm vụ của bạn là đưa ra những quan điểm mới từ nguồn thông tin có sẵn hoặc từ những nghiên cứu, lập luận của mình. Trên đây là top những chủ đề tiểu luận luật hình sự đạt được điểm cao nhất. Hy vọng bạn đã có cái nhìn tổng quát về bộ môn luật hình sự. Nếu còn đang băn khoăn chưa chọn được đề tài, hãy lưu ý những cái tên nhé. Chúc các bạn sẽ có bài tiểu luận đạt điểm cao và hoàn thành xuất sắc học phần của mình. Content Manager tại Tri thức Cộng đồng Xin chào, tôi là Hà Phương. Hiện tại Quản lý nội dung Content Manager của Tri Thức Cộng Đồng. Từ bé tôi đã yêu thích đọc sách và sáng tác nội dung, tôi đã nuôi dưỡng ước mơ và phấn đấu trong 5 năm để trở thành Quản lý nội dung tại Tri Thức Cộng Đồng. Với tôi mọi sự thành công đều cần ước mơ và nỗ lực. Bạn hãy tham khảo website để tìm hiểu rõ hơn về công việc của tôi nhé.
tiểu luận về luật hình sự