nghệ thuật so sánh
Tất cả Reno Series So Sánh. A Series. A Series. OPPO A96. OPPO A95. OPPO A77s. New. OPPO A76. OPPO A57. Tất cả A Series So Sánh. Sản phẩm IoT Chúng tôi sử dụng cookie và các công nghệ tương tự để đảm bảo trang web này hoạt động chính xác và để phân tích lưu lượng truy cập và tối
So sánh Buds Pro Vs Buds Plus về chất lượng âm thanh và cuộc gọi. Cả Galaxy Buds Pro và Galaxy Buds Plus đều sở hữu công nghệ kết nối Bluetooth 5.0 hỗ trợ một loạt những công nghệ AAC, SBC, và SSC (Samsung Scalable Connect). Cho phép phối hợp điều khiển hệ thống loa trầm 11mm và loa
Trong đó: + Range: Vùng chứa dữ liệu cần đếm (tham số bắt buộc). + Criteria: Điều kiện dùng để đếm dữ liệu (tham số bắt buộc). - Cách thực hiện như sau: - Bước 1: Truy cập trang tính Excel và mở 2 dữ liệu cần so sánh. Truy cập trang tính Excel và mở 2 dữ liệu cần so
Độ suy hao càng lớn thì khoảng cách truyền càng ngắn. - Với cáp quang OM2, độ suy hao thông thường là 2.5 - 0.5 dB/Km. Còn độ suy hao tối đa là 2.7 - 0.7 dB/Km. - Với cáp quang OM3, để đạt khoảng cách truyền tối đa 100m, với tiêu chuẩn Ethernet 40G và 100G thì tổng suy hao toàn
Tất cả những khác biệt trong so sánh trên cho thấy Bóng đá nghệ thuật, hay còn gọi là Tâng bóng nghệ thuật đã có một cộng đồng, văn hóa riêng của nó. Trong bối cảnh cần có sự tươi mới cho môn thể thao vua - Bóng đá. Thì những khác biệt nêu trên giúp người chơi có
Sie Sucht Ihn Für Email Kontakt. Khái niệm biện pháp tu từ so sánh là gì? a – Khái niệm phép so sánh Phép so sánh là đối chiếu sự vật, sự việc, hiện tượng này với sự vật, sự việc, hiện tượng khác có nét tương đồng để tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn dung chính Show Khái niệm biện pháp tu từ so sánh là gì?So sánh là gì?Biện pháp so sánh là gì? Có mấy kiểu so sánh? Cho ví dụKhái niệm so sánh là gì và cách nhận biết phép so sánh2. Nhân hóa3. Ẩn dụBIỆN PHÁP SO SÁNH Ở TIỂU HỌCVideo liên quan b – Ví dụ phép so sánh Thư viện hỏi đáp sẽ đưa ra các ví dụ về phép so sánh trong ca dao – tục ngữ, trong thơ ca gồm Ví dụ phép so sánh trong ca dao – tục ngữ Ví dụ 1 Cày đồng đang buổi ban trưa – Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. So sánh mồ hôi như mưa = > ý nói sự vất vả của người nông dân khi làm nông. Ví dụ 2 Công cha như núi Thái Sơn – Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. So sánh công Cha núi ngọn núi Thái sơn, tình mẹ như nước trong nguồn. Ví dụ so sánh trong thơ ca Ví dụ 1 Ao thu lạnh lẽo nước trong veo – Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Thu điếu – Nguyễn Khuyến. So sánh chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Ví dụ 2 Những đêm trăng hiền từ Biển như cô gái nhỏ Thầm thì gửi tâm tư Quanh mạn thuyền sóng vỗ Trích tác phẩm Thuyền và Biển – Xuân Quỳnh. Phép so sánh biển như cô gái nhỏ. So sánh Đây là biện pháp tu từ thường được sử dụng nhất, được sử dụng gắn liền với các từ ngữ “như”, “bao nhiêu…bấy nhiêu”. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các từ ngữ biểu hiện sự so sánh thường bị vậy, So sánh là việc đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương pháp so sánh có tác dụng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự vật được nhắc tới, khiến cho câu văn thêm phần sinh động, gây hứng thú với người dụ Trẻ em như búp trên cành. Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là pháp so sánh giữa “trẻ em” với “búp trên cành”, gợi cho người nghe, người đọc thấy được sự non nớt của trẻ em. Vì thế, trẻ em cần được bao bọc, che chở và chăm sóc. So sánh là gì?So sánh là biện pháp đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để tăng sức gợi hình, gợi cảm cho biểu dụ Trẻ em như búp trên cành. Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là thơ trên so sánh trẻ em như búp trên cành. Vì trẻ em và búp trên cành là sự non nớt và cần được bao bọc, che chở và chăm sóc. Biện pháp so sánh là gì? Có mấy kiểu so sánh? Cho ví dụ / September 22, 2021 Để biết được phép so sánh là gì? Có mấy kiểu so sánh và tác dụng của biện pháp so sánh là gì? thì xin mời bạn đọc cùng theo dõi bài viết dưới đây của nhé! Khái niệm so sánh là gì và cách nhận biết phép so sánh So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng với nhau làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. Những dấu hiệu để nhận biết trong câu có sử dụng biện pháp tu từ so sánh đó là câu có sử dụng những từ sau như, là, giống như. Đồng thời qua nội dung trong câu đó là 2 sự vật, sự việc có điểm chung được so sánh với nhau. Ví dụ “Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” Trong câu ca dao trên, “công cha” được so sánh với “núi Thái Sơn” còn “nghĩa mẹ” được so sánh với “nước trong nguồn”. Biện pháp so sánh trong câu ca dao trên giúp ta thấy được tình cha, nghĩa mẹ dành cho chúng ta là vô bờ bến. “Cày đồng đang buổi ban trưa Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” “Mồ hôi” được so sánh với “mưa ruộng cày” muốn nhấn mạnh nỗi vất vả, chịu thương, chịu khó của người nông dân. Vậy là bạn đã biết so sánh là gì cũng như cách nhận biết phép so sánh rồi đúng không nào! Để biết chi tiết hơn về tác dụng cũng như cấu tạo của biện pháp so sánh thì các bạn hãy tiếp tục theo dõi bài viết nhé! So sánh là gì? Cách nhận biết biện pháp so sánh 2. Nhân hóa– Khái niệm Là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ,… vốn dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật,…– Tác dụng Làm cho sự vật, đồ vật, cây cối trở nên gần gũi, sinh động, thân thiết với con người hơn– Dấu hiệu nhận biết Các từ chỉ hoạt động, tên gọi của con người ngửi, chơi, sà, anh, chị,…Ví dụ+ “Chịong nâu nâu nâu nâu/chịbay đi đâu đi đâu”+ Heo hút cồn mây súngngửitrời3. Ẩn dụ– Khái niệm Ẩn dụ là phương thức biểu đạt gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó– Tác dụng Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt– Dấu hiệu nhận biết Các sự vật dùng để ẩn dụ có nét tương đồng với nhauVí dụ“Người cha mái tóc bạc/ đốt lửa cho anh nằm/ rồi Bác đi dém chăn/ từng người từng người một”⇒ Người cha, Bác chính là Hồ Chí Minh BIỆN PHÁP SO SÁNH Ở TIỂU HỌCĐăng lúcThứ hai - 14/08/2017 1820- Người đăng bài viết nguyễn thị thu luyến- Chuyên mục Đã xem 168035
Câu hỏi Đặt câu có sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh để miêu tả "tia nắng" viết đoạn văn ngắn 6 - 8 câu,miêu tả cảnh đẹp quê hương đoạn văn có sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh Xem chi tiết Cho đoạn văn "Sau trận bão,chân trời ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi... những người chài lưới trên muôn thủa biển Đông"a Chỉ ra biện pháp nghệ thuật tiêu biểu và cấu tạo b Viết từ 3 -> 4 câu nối tiếp nhau để phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuậtc Miêu tả cảnh măt trời mọc có sử dụng biện pháp so sánh Xem chi tiết Viết đoạn văn khoảng 8 - 10 câu miêu tả một ngày nắng đẹp. Đoạn văn có sử dụng 1 biện pháp tu từ so sánh gạch chân phép so sánh và cho biết kiểu so sánh được sử dụng. Xem chi tiết Viết đoạn văn khoảng 15 câu miêu tả cơn mưa mùa hạ. Trong đoạn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh và 1 câu trần thuật đơn có từ " Là" * Xem chi tiết đặt câu văn miêu tả con vật nuôi nhà em trong đó sử dụng biện pháp tu tư so sánh Xem chi tiết meo 25 tháng 3 2019 lúc 2041 Hãy viết một đoạn văn từ 7-10 câu để tả về hình ảnh Dế Mèn trong văn bản "Bài học đường đời đầu tiên" của Tô Hoài có sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh Xem chi tiết viết 1 đoạn văn từ 10 đến 12 câu miêu tả mùa quả chín có sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ và so sánh gạch chân dưới câu có sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ và so sánh Xem chi tiết Thế nào là ca dao? Thế nào là thành ngữ tục ngữ? Hãy nêu a. 5 câu ca dao có sử dụng biện pháp nghệ thuật so 5 câu thành ngữ tục ngữ có sử dụng biện pháp nghệ thuật so nhanh mik tick cho Xem chi tiết foxbvn 5 tháng 8 2018 lúc 2016 viết 1 đoạn văn miêu tả buổi sáng mùa hè có sử dụng biện pháp nhân hóa so sánh. gạch chân câu văn có sử dụng biện pháp ấy Xem chi tiết
Hệ thống hóa, phân loại các loại hình nghệ thuật và phân tích mối quan hệ giữa các nghệ thuật là một trong những đối tượng nghiên cứu quan trọng của mỹ học. Nghệ thuật thuần nhất là gì?Bảng 1. Danh mục tổng quát về các loại hình nghệ thuậtBảng 2. Nghệ thuật một tính 3. Nghệ thuật hai tính năng Nhưng muốn lập được bảng phân loại nghệ thuật trước tiên phải xác định nghệ thuật là gì?. Đó là một tiền đề lý thuyết chưa bao giờ đạt được sự nhất trí trong ngành mỹ học. Tuy nhiên, qua tất cả các định nghĩa về nghệ thuật, vẫn có thể tìm thấy được tiếng nói chung một sản phẩm, một tác phẩm, một vật phẩm, được lọt vào vòng xem xét là nghệ thuật hay không phải, chưa phải là nghệ thuật, vẫn thuộc phạm trù cái đẹp, thuộc loại hoạt động sáng tạo thẩm mỹ của con người. Một tòa nhà đẹp kiến trúc, một cái gạt tàn thuốc đẹp mỹ thuật ứng dụng, một bức hình đẹp nhiếp ảnh nghệ thuật, một vũ điệu trên băng thể thao nghệ thuật,… là những sản phẩm, những hoạt động có khi chưa được một trường phái mỹ học xem là nghệ thuật. Vì các nhà mỹ học thuộc trường phái này, muốn hạn định phạm trù nghệ thuật trong khuôn khổ của những sáng tạo thuần túy tinh thần thuần khiết, không liên quan với việc sử dụng, với những mục đích thực tế vật chất. Nhưng trong đời sống, những hoạt động nghệ thuật thuần túy đó luôn luôn gắn với những hoạt động thẩm mỹ khác, có khi kết hợp, hòa lẫn với nhau để cùng phục vụ nhu cầu thẩm mỹ đa dạng của con người, ranh giới có khi khó phân biệt. Một kiệt tác hội họa có khi xuất xứ từ một bức tranh vẽ đền thờ, theo yêu cầu của tôn giáo, một giai điệu âm nhạc cổ điển có khi trở thành nhân tố tạo nên một chương trình quảng cáo. Do đó, để tiến tới việc xây dựng một bảng danh mục nghệ thuật, cần phải thừa nhận một phạm trù nghệ thuật theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các loại hình sáng tạo thẩm mỹ ở trình độ cao. Sau đó, sẽ phân biệt hai hệ thống, hai cấp độ khác nhau của các hoạt động đó, tạm gọi là hai hình thái, hai quá trình thẩm mỹ hóa bậc 1 và bậc 2. Đó là hai hệ thống nghệ thuật nghệ thuật thuần nhất và nghệ thuật ứng dụng. Trước khi lập bảng danh mục và phân loại nghệ thuật, nên xác định những đặc trưng bản chất của nghệ thuật, nói cách khác, cần tìm một câu định nghĩa về nghệ thuật. Như trên đã nói, có thể hình dung thực tiễn đời sống thẩm mỹ như một sơ đồ có ba vòng tròn đồng tâm vòng rộng nhất là bao gồm mọi hoạt động lao động của con người, ở đâu dù ít nhiều, cũng đi theo quy luật của cái đẹp Marx. Từ vòng tròn thứ hai, hoạt động theo quy luật của cái đẹp đạt đến một trình độ tập trung hơn, cao hơn. Đó là bắt đầu của thế giới nghệ thuật theo nghĩa rộng nhất của nghệ thuật. Vòng tròn thứ ba trong cùng, là hoạt động nghệ thuật thuần nhất. Vậy, cần có hai định nghĩa, theo hai vòng tròn bên trong, một định nghĩa chung, và một định nghĩa chỉ dành cho hoạt động nghệ thuật thuần nhất. Cũng nên nói trước, định nghĩa là một thao tác khoa học rất khó, nhất là những phạm trù thuộc khoa học xã hội. Vì định nghĩa là đem nhốt cả sự sống phong phú vào một công thức dễ chủ quan phiến diện. Nhưng làm lý luận không thể trốn tránh việc định nghĩa. Với nghệ thuật, ngay trong vấn đề đang trình bày, định nghĩa nhằm định hướng cho phân loại, và phân loại chứng minh cho định nghĩa. Chẳng hạn, có thể định nghĩa để xếp chung xiếc và nghệ thuật sân khấu kịch vào một loại, nhưng cũng có thể định nghĩa để chúng ở hai loại hoàn toàn khác nhau. Trong lúc đó, có thể định nghĩa để xếp hai nghệ thuật tưởng chừng rất khác nhau vào cùng một loại, đó là mỹ nghệ và xiếc, kiến trúc và thể thao nghệ thuật. Vậy, theo ý nghĩa rộng rãi nhất, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, là một loại hoạt động tinh thần thực tiễn của con người, đi theo quy luật của cái đẹp ở trình độ phát triển cao, nhằm phục vụ cho con người một đời sống tinh thần phong phú, đáp ứng những nhu cầu và khát vọng của con người, vươn tới những giá trị chân thiện mỹ. Cùng mang tất cả những đặc điểm chung đó, loại nghệ thuật thuần nhất là hình thức sáng tạo đặc biệt, được tạo nên bởi người nghệ sĩ có cá tính độc đáo, có tâm hồn giàu cảm xúc, có tài năng sáng tạo. Chữ thuần nhất nhằm nói tới sự thống nhất chặt chẽ và hài hòa giữa phương tiện và mục đích, giữa nội dung và hình thức trong loại hoạt động này. Nước ngoài có những từ ngữ như beaux arts, belles lettres Pháp, văn nghệ thuật Nga, để đối lập với nghệ thuật ứng dụng. Nghệ thuật ở đây là tiếng nói tình cảm, tư tưởng của con người gửi đến con người, nhằm biểu đồng tình, kêu gọi, tác động, định hướng cho con người đi vào chiêm ngưỡng, chọn lựa những kinh nghiệm sống và kinh nghiệm tình cảm, thông qua cái cấu trúc cảm tính sinh động đơn nghĩa và đa nghĩa, tả thực và ước lệ, miêu tả và biểu hiện, tạo nên bởi tưởng tượng và hư cấu, đó là hình tượng. Để tiếng tới một bảng danh mục nghệ thuật với sự phân loại cụ thể, xuất phát từ định nghĩa trên, tìm các tiêu chí, các bình diện để phân loại, xếp loại, đó là công việc của khoa hình thái học nghệ thuật. Tư tưởng hình thái học có rất sớm từ trong mỹ học cổ đại, và trước đó nữa, là trong tư duy thần thoại. Người Hy Lạp xưa có cả một gia hệ các nữ thần muses tập hợp dưới trướng của Apollon, thần mặt trời, thần trí tuệ, và phần nghệ thuật. Tất cả 9 nữ thần nghệ thuật tượng trưng cho 9 loại hình như hoạt động như sau Clio lịch sử, Euterpe âm nhạc, Thalie hài kịch và thơ điền viên, Melpomene bi kịch, Terpsichore múa, Erato oán thi, Polymnie thơ trữ tình, Uranie thiên văn và hình học, Calliope hùng biện và anh hùng ca. Trong gia hệ các nữ thần này, con người cổ đại đã có ý thức kén chọn những tinh hoa thuộc về đời sống trí tuệ và tâm hồn, và coi trọng sự nhận thức của con người cả về khoa học và nghệ thuật, chưa tách biệt nghệ thuật ra khỏi khoa học, vẫn là một khối nguyên hợp những sáng tạo tinh thần. Tuy không có mặt trong gia hệ này, nhưng kiến trúc và thủ công mỹ nghệ vẫn có những vị thần bảo trợ khác nhau, đó là vị thần lữa, cũng là thần luyện kim Hephaistos, chuyên lo xây dựng cung điện và rèn vũ khí cho các thần, dạy cho thế gian làm các lò rèn. Nữ thần Athena con gái của Zeus, cũng là một nữ thần khoa học và nghệ thuật, chăm lo nghề kim chỉ thêu thùa và cả âm nhạc dụng cụ. Căn cứ trên tư duy thần thoại đó, các nhà mỹ học về sau đã dựng nên hai hệ thống nghệ thuật dưới sự chỉ đạo của hai vị thần hệ thống Apollon các nghệ thuật tinh thần và hệ thống Hephaistos các nghệ thuật vật chất. Thâu tóm những quan niệm phân loại, những tư tưởng hình thái học qua các thời đại, có thể rút ra các cặp tiêu chí phân loại sau đây a Tiêu chí bản thể onthologie NT không gian/ NT thời gian thực hoặc tĩnh/động. Xác định điều kiện tồn tại của tác phẩm nghệ thuật. Từ đó, nảy sinh những đặc trưng về phương thức sáng tạo và thể hiện. b Tiêu chí tâm lý NT thính giác/ NT thị giác Thính giác gắn liền với tiêu chí nghệ thuật thời gian, thị giác gắn liền với nghệ thuật không gian. Cặp tiêu chí này phân chia nghệ thuật thành hai loại bị chi phối đặc trưng tâm sinh lý sáng tác và cảm thụ là nghe và nhìn. c Tiêu chí ký hiệu sémiologie miêu tả/ không miêu tả Còn gọi là miêu tả description hay tạo hình figuratif / biểu hiện expressif Do đặc điểm trực tiếp bộc lộ thái độ của chủ thể hay gián tiếp bộc lộ chủ thể, thông qua những hình ảnh tái tạo hiện thực nghệ thuật, sẽ có hai loại tác phẩm khác nhau, là thiên về chủ quan hay thiên về khách quan. d Tiêu chí tính năng NT đơn tính một tính năng/ NT lưỡng tính hai tính năng Hoặc NT thuần nhất/ NT ứng dụng Đây là tiêu chí quan trọng nhất nhằm phân biệt hai hệ thống nghệ thuật khác biệt nhau hệ thống nghệ thuật thuần nhất chỉ mang một tính năng là tính năng thẩm mỹ. Hệ thống nghệ thuật ứng dụng mang hai tính năng là tính năng ích dụng và tính năng thẩm mỹ. Trong đó, tính năng ích dụng là cơ bản, và tính năng thẩm mỹ là thứ yếu. Một loại hình nghệ thuật thường mang mấy đặc điểm phù hợp với mấy tiêu chí khác nhau. Chẳng hạn, âm nhạc là nghệ thuật thời gian, thính giác, không miêu tả, một tính năng hoặc hai tính năng, nếu là nhạc ứng dụng. Hội họa là nghệ thuật không gian, thị giác, miêu tả trừ thể loại trừu tượng, một tính năng hoặc hai tính năng, nếu là hội họa ứng dụng. Cuối cùng, có những loại hình mang đặc trưng của nhiều nghệ thuật, vì sử dụng phương tiện của tất cả các nghệ thuật đó, gọi là nghệ thuật tổng hợp như sân khấu, điện ảnh, kiến trúc,…. Do đó, có thể thêm một cặp tiêu chí thứ 5. e NT độc lập/ NT tổng hợp Hoặc NT độc lập/ NT liên kết chỉ có hai yếu tố như văn học với âm nhạc, múa và nhạc múa. Ngoài ra, người ta có thể kể các cặp tiêu chí khác, như trình diễn/ không trình diễn, ngôn ngữ/ phi ngôn ngữ. Sau đây, xin giới thiệu ba bảng danh mục bảng danh mục tổng quát bao gồm tất cả các loại hình; bảng danh mục nghệ thuật đơn tính – nghệ thuật thuần nhất; bảng danh mục nghệ thuật lưỡng tính – nghệ thuật ứng dụng. Bảng 1. Danh mục tổng quát về các loại hình nghệ thuật Hệ thống 1 Nghệ thuật đơn tính bao gồm điêu khắc, hội họa, đồ họa, văn chương, âm nhạc, múa, sân khấu, phim trong điện ảnh và truyền hình. Hệ thống 2 Nghệ thuật lưỡng tính bao gồm kiến trúc, đồ dùng công cụ, trang trí, hoa văn, điêu khắc ứng dụng, hội họa, đồ họa ứng dụng, nhiếp ảnh, văn chương ứng dụng, âm nhạc ứng dụng, múa ứng dụng, sân khấu ứng dụng, màn ảnh ứng dụng, xiếc, thể thao nghệ thuật. CT Trình tự sắp xếp các nghệ thuật là theo quan điểm lịch sử logic, các nghệ thuật có tính vật chất gắn với lao động sản xuất và xuất hiện sớm hơn trong lịch sử, thì xếp trước nghệ thuật ứng dụng, kiến trúc, điêu khắc và xếp các nghệ thuật độc lập hội họa, âm nhạc trước các nghệ thuật tổng hợp sân khấu, màn ảnh. Bảng 2. Nghệ thuật một tính năng. Nhóm loại hình – loại hình – loại thể. Sáng tạo nghệ thuật thuần nhất hệ thống nghệ thuật 1 nghệ thuật một tính năng. – Nhóm không gian bao gồm nhóm miêu tả điêu khắc 1 điêu khắc tròn, đắp nổi, tượng nhỏ, tượng đài, tượng hoành tráng, và nhóm miêu tả hội họa đồ họa 2 tranh trên đá, tranh hoành tráng, tranh chân dung, tranh phong cảnh, tranh bố cục, tranh tĩnh vật. Nhóm không miêu tả bao gồm điêu khắc không biểu hình, hội họa không biểu hình. – Nhóm thời gian bao gồm nhóm miêu tả văn chương 3 tự sự truyện ngắn, tự sự truyện vừa, tự sự tiểu thuyết, trữ tình, thơ, tùy bút, kịch bản. Nhóm không miêu tả âm nhạc 4 bao gồm thanh nhạc ca khúc, tổ khúc, opera và khí nhạc hòa tấu, etude, sonata, concerto, symphonie giao hưởng. – Nhóm không gian và thời gian NT tổng hợp và liên kết bao gồm nhóm miêu tả sân khấu kịch 6 kịch nói, kịch hát, kịch rối, và nhóm miêu tả phim nghệ thuật 7 phim điện ảnh, phim truyền hình, phim truyện, phim tài liệu nghệ thuật. Nhóm không miêu tả múa 5 bao gồm múa biểu hiện, múa giao tế, kịch múa. Bảng 3. Nghệ thuật hai tính năng Nhóm loại hình – loại hình – loại thể. Sáng tạo thẩm mỹ – ứng dụng hệ thống nghệ thuật 2. Nghệ thuật hai tính năng. – Nhóm không gian — Nhóm miêu tả điêu khắc ứng dụng 5 bao gồm tượng thờ, tượng giáo khoa, tượng đồ chơi; hội họa ứng dụng đồ họa ứng dụng 6 bao gồm tranh thờ, tranh thánh, tranh tuyên truyền, tranh áp phích, quảng cáo, đồ họa thương nghiệp, tiền tem, minh họa sách báo; nhiếp ảnh bao gồm ảnh căn cước, ảnh kỷ niệm. — Nhóm không miêu tả kiến trúc 1 bao gồm kiến trúc dân dụng, kiến trúc công cộng, kiến trúc tôn giáo, công viên; đồ dùng công cụ 2 bao gồm thủ công và mỹ nghệ, mỹ thuật công nghiệp; trang trí 3 bao gồm trang trí kiến trúc, đồ dung, trang trí lễ,…; hoa văn 4 bao gồm kỹ hà, hoa chim,…. – Nhóm thời gian — Nhóm miêu tả văn chương ứng dụng 8 bao gồm văn tuyên truyền, chính luận, thông tấn báo chí, văn chương minh họa chính trị, tôn giáo, đạo đức, khoa học. — Nhóm không miêu tả âm nhạc ứng dụng 9 bao gồm nhạc môi trường, nhạc tôn giáo, nhạc lễ binh, nhạc trị liệu. – Nhóm không gian và thời gian — Nhóm miêu tả sân khấu ứng dụng 11 bao gồm hoạt cảnh, diễu hành có hóa trang; màn ảnh ứng dụng 12 bao gồm điện ảnh và truyền hình, phim thời sự, phim tài liệu giáo khoa khoa học. — Nhóm không miêu tả múa ứng dụng 10 bao gồm múa tôn giáo, múa thể thao, múa ba lê trên băng, múa thể dục nhịp điệu, múa kiếm, múa lân; xiếc 13; thể thao nghệ thuật 14. Lê Ngọc Trà Lâm Vinh Huỳnh Như Phương nghethuat myhoc daicuong Xem thêm bài viết Một số đặc điểm cơ bản của các loại hình nghệ thuật là gì? Bạn đang xem bài viết Nghệ thuật và bảng phân loại nghệ thuật là gì? Link
Mặc cho tất cả những khác biệt, nghệ thuật và thời trang đang hòa quyện, đan xen hơn bao giờ hếtNgười mẫu trình diễn trong giai điệu Picasso Baby của Jay Z giữa 75 tác phẩm điêu khắc và tranh do Lagerfeld thai nghén từ những biểu tượng huyền thoại như ngọc trai, chai nước hoa, hoa camellia, logo hai chữ C…Nhiều người thường tôn vinh sự thưởng thức nghệ thuật là uyên thâm trong khi trớ trêu thay thời trang lại được hiểu là thứ phù phiếm. Thực tế, từ những năm 1930, thời trang đã từng bước đến với miền đất nghệ thuật. Và giờ đây, hơn khi nào hết, khoảng cách giữa hai lĩnh vực này đã trở nên vô cùng nhạt trang là một hình thức nghệ thuậtNhiều người lạc quan hy vọng rằng không lâu nữa nghệ thuật sẽ thu nạp thêm một bộ môn mới là thời trang. Nhà thiết kế Zandra Rhodes tin rằng thời trang là một hình thức nghệ thuật. Bà nói“Tôi không nghĩ những thứ được thiết kế ra này khá thiết thực nên khác biệt với nghệ thuật. Bạn có thể nói một bức tranh được tạo ra để treo lên tường là nghệ thuật nhưng nếu nó là dạng bích họa, gắn với một phần của bức tường, chẳng lẽ khi ấy nó không phải là nghệ thuật nữa bởi vì nó thực dụng?Nghệ thuật giờ đây không chỉ liên quan đến cái đẹp. Vậy bạn có thấy thời trang – thứ luôn xoay quanh cái đẹp dù không phải ai cũng đồng tình về khái niệm cái đẹp – thích hợp hơn, mang tính nghệ thuật hơn là những thứ vô nghĩa mà người ta coi là ý tưởng nghệ thuật. Nếu bạn nghĩ theo hướng đó, nghệ thuật có thể đứng sang một bên nhường chỗ cho thời trang vẫn luôn nỗ lực tiến lên đảm nhiệm vai trò của nghệ thuật”.Sau các nghệ sỹ Stephen Sprouse và Takashi Murakami, Louis Vuitton đã có cuộc hợp tác đầy ấn tượng với “nữ hoàng chấm bi” Yayoi KusamaSự giao thoa giữa hai lĩnh vực thời trang và nghệ thuật không phải là hiện tượng mới. Năm 1937, nhà tạo mốt trứ danh Elsa Schiaparelli đã cùng họa sỹ tài ba Salvador Dalí làm nên một chiếc đầm dạ tiệc theo phong cách siêu thực in hình con tôm bằng lụa organza và lông ngựa tổng hợp. Ba mươi năm sau, Yves Saint Laurent tạo nên chiếc đầm suôn đi vào lịch sử thời trang với những ô kẻ như trên tranh của Piet tình giữa nghệ thuật và thời trangKhông thể phủ nhận thời trang may đo cao cấp haute couture đã chuyển tải được những ý tưởng sáng tạo độc đáo lên nền canvas căng trên chiếc khung tuyệt đẹp – cơ thể của phụ nữ. Điều đó ấn tượng không kém bất cứ tác phẩm điêu khắc hay hội họa danh giá những thiết kế lấy cảm hứng từ kiến trúc, Iris Van Herpen còn thường có lối trình diễn mang đầy tính nghệ thuậtThời trang ứng dụng ready-to-wear cũng tỏ ra không hề thua kém. Trong show diễn xuân hè 2014 tại Milan, Miuccia Prada đã hợp tác với sáu nghệ sỹ đương đại để tạo ra bức tranh tường trang trí cho sàn catwalk. Hình ảnh được tạo ra chính là cảm hứng cho những mẫu đầm và túi nổi bật nhưng dễ ứng dụng trong bộ sưu tập của bà. Gần hai tuần sau đó tại Paris, Karl Lagerfeld đã biến sảnh triển lãm ở cung điện Grand Palais thành không gian mang phong cách một hội chợ nghệ thuật cho buổi diễn Spring – Summer 2014 của Chanel. Một số bức vẽ được trang trí bằng những tấm ván theo phong cách của nghệ sỹ John McCracken, một số khác được đóng khung như tác phẩm của các danh họa bậc trái sang thiết kế của Dolce & Gabbana, Iris Van Herpen, PradaCoco Chanel từng so sánh thời trang với kiến trúc bởi cả hai đều chú trọng đến các tỷ lệ cân xứng. Đó không phải là mối liên quan duy nhất giữa thời trang với môn nghệ thuật này. Tại Tuần lễ Thời trang Milan Xuân Hè 2014, Dolce & Gabbana đã tái hiện hình ảnh kiến trúc của Sicily cổ đại. Những mẫu đầm được in hình những công trình điêu tàn, còn gót giày mô phỏng theo những cây cột của một ngôi đền cổ. Các công trình kiến trúc cũng xuất hiện đầy ấn tượng trên nhiều mẫu in kỹ thuật số của Mary Katrantzou mà gần đây là trong bộ sưu tập Resort 2014 với hình ảnh những tòa chung cư ở Sao tương trợ giữa thời trang và nghệ thuậtMitchell Oakley Smith, đồng tác giả cuốn sách Art/Fashion in the 21th Century, bình luận “Những cuộc bắt tay với thời trang chính là cách để các nghệ sỹ đưa danh tiếng ra thế giới. Tôi không nghĩ Murakami sẽ có được tiếng tăm như hiện giờ nếu không phải nhờ cuộc hợp tác với Louis Vuitton”. Sự kết giao với nghệ thuật đã giúp thời trang tiến gần đến ngưỡng cửa nghệ thuật và ngược lại, Smith cho rằng chính thời trang đã giúp nghệ thuật trở nên hợp mốt lãm The Glamour of Italian Fashion 1945–2014Các tín đồ thời trang mua trang phục lấy ý tưởng từ nghệ thuật như một cách sưu tầm, lưu giữ nghệ thuật. Và như thế, các cửa hàng đang dần trở thành gallery mỹ thuật. Xa hơn nữa, những thiết kế thời trang cũng đã tìm được đường vào các bảo tàng, trưng bày và được chiêm ngưỡng như tác phẩm nghệ thuật thực thụ những triển lãm như Alexander McQueen và gần đây nhất là Wedding Dresses 1775–2014, The Glamour of Italian Fashion 1945–2014 hay Cartier Style and History…Có lẽ những nỗ lực ấy của thời trang đến một lúc nào đó sẽ khiến giới nghệ thuật hàn lâm phải ngả mũ tiếp ấy – Bây GiờJIL SANDER Mẫu áo sợi dệt có chân dung Picasso năm 2012 có giá đô-la Mỹ và đang xuất hiện với giá hời đô-la trên SAINT LAURENT Năm 1965, bộ đầm Mondrian giá – franc. Năm 2011, một phiên bản đã bán vơi giá lên tới bảng MIYAKE Áo xếp pli in tranh phụ nữ khỏa thân Pleats Please năm 1996 có giá 175 đô-la Mỹ, còn bây giờ đã lên đô-la trên Diễm Trinh – Ảnh Tư liệu
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘITRỊNH TỐ LOANNGHỆ THUẬT SO SÁNH TRONG TIỂU THUYẾTĐOẠN TUYỆT CỦA NHẤT LINHChuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đạiMã số 60 22 01 21LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂNNgười hướng dẫn khoa học TS Trần Văn ToànHÀ NỘI - 2015LỜI CẢM ƠNLời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất tớiTS. Trần Văn Toàn – Người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tác giảtrong suốt quá trình học tập và thực hiện luận giả trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu trường Đại học sư phạm HàNội, ban Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, các thầy cô giáo bộ môn đã tham giagiảng dạy, truyền đạt kiến thức, hướng dẫn khoa học, đóng góp ý kiến quýbáu và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tại trường cũng như quá trìnhthực hiện luận cùng tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ,động viên nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt để tác giả hoàn thànhtốt chương trình học tập và nghiên cứu đề tài khoa học Nội, tháng 10 năm 2015Tác giảTrịnh Tố LoanMỤC LỤCMỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề Văn học Việt Nam hiện đại 1930- 1945 là dấu mốc quan trọngtrong toàn bộ tiến trình văn học nước nhà. Mặc dù chỉ tồn tại trong khoảng 15năm nhưng văn học Việt Nam hiện đại đã để lại cho hậu thế một khối lượngtác phẩm đồ sộ gắn liền với nó là những phong cách nghệ thuật độc đáo trongcả thơ lẫn văn xuôi. Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930- 1945, Tự lựcvăn đoàn là "nhóm quan trọng nhất và là nhóm cải cách đầu tiên của nền vănhọc Việt Nam hiện đại" Hoàng Xuân Hãn.Tự Lực văn đoàn là một tổ chức của các nhà văn chuyên nghiệp doNguyễn Tường Tam Nhất Linh khởi xướng và bắt đầu hình thành vào cuốinăm 1932, chính thức tuyên bố thành lập vào Thứ Sáu, ngày 2 tháng 3 năm1934 tuần báo Phong Hóa số 87. Đây là một tổ chức văn học đầu tiên của ViệtNam mang đầy đủ tính chất một hội đoàn sáng tác theo nghĩa hiện đại, và là mộttổ chức văn học đầu tiên trong lịch sử văn học của dân tộc Việt do tư nhân chủxướng. Với khoảng 10 năm 1932 - 1942 tồn tại, văn đoàn ấy với những sángtác văn học, hoạt động báo chí, xuất bản sách, trao giải thưởng, tạo nhiềuảnh hưởng đến văn học và xã hội Việt Nam ở thời kỳ Tự lực văn đoàn, Nhất Linh là người sáng lập, người điều hành,đồng thời cũng là cây bút trụ cột của nhóm. Mặc dù sáng tác không nhiều,nhưng Nhất Linh đã "vạch ra một con đường riêng", cách tân mạnh bạo trongcác sáng tác cả về nội dung và nghệ thuật, góp phần tạo danh tiếng cho tổchức văn học Nhất Linh và Tự lực văn đoàn "đã có những đóng góp lớn vàonghệ thuật tiểu thuyết và tính hiện đại của tiểu thuyết, đóng góp vào câu văncủa dân tộc với lối văn trong sáng và rất Việt Nam" Huy Cận. Một trongnhững đóng góp đó của Nhất Linh chính là nghệ thuật so nghiệp văn học của Nhất Linh đã được nhiều người quan tâmnghiên cứu. Tuy nhiên, trong số những công trình nghiên cứu về sự nghiệpvăn học của ông đã công bố, chưa có công trình nào tập trung tìm hiểu sâu về“Nghệ thuật so sánh trong tiểu thuyết của Nhất Linh”. Vì lẽ đó mà chúng tôilựa chọn đề tài này làm đối tượng nghiên cứu của luận Lịch sử vấn Nghiên cứu về Nhất LinhNgay từ khi mới ra đời, tác phẩm của Nhất Linh chưa bao giờ thôi hấpdẫn người đọc và các nhà nghiên cứu. Những công trình nghiên cứu về NhấtLinh khá phong phú và đa dạng, có thể điểm qua những công trình tiêu biểunhư sauCuốn Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hoá văn học của Vu Gia củaNxb Văn hoá thông tin 1995, là tập hợp các bài nghiên cứu về cuộc đời, sựnghiệp văn học của Nhất Linh và nhóm Tự lực văn đoàn trong tiến trình hiệnđại hoá văn học Việt Nhất Linh - cây bút trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn của nhiều tácgiả do Mai Hương tuyển chọn, biên soạn của Nxb Văn hoá Thông tin 2000 ấnhành, là tập hợp những bài nghiên cứu, những bài viết về cuộc đời và vănnghiệp của nhà văn Nhất Linh với ba phần Nhất Linh - phác thảo chân dungvà văn nghiệp. Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Nhất Linh. Nhất Linh trongbạn bè, đồng nghiệp và người Anh em Nguyễn Tường Tam, Nhất Linh - ánh sáng và bóng tối củaKhúc Hà Linh, Nxb Thanh niên 2008 là cuốn khảo cứu về một số tác phẩm tiêubiểu của tự lực văn đoàn, về vùng đất và các tác giả Tự lực văn Tiến Quỳnh có cuốn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, ThạchLamTuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình - bình luận văn học của cácnhà văn và các nhà nghiên cứu Việt Nam , Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh21999 đã giới thiệu những bài phê bình bình luận văn học của các nhà văn vàcác nhà nghiên cứu Việt Nam về phong cách sáng tác của các tác giả NhấtLinh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Nhất Linh con người và tác phẩm của Lê Cẩm Hoa, Nxb Văn học2000 giới thiệu một số bài viết về Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Tóm tắtvà trích một số tác phẩm tiêu biểu của Nhất Linh như Hai vẻ đẹp, Đoạn tuyệt,Lạnh lùng, Đôi bạn...Bên cạnh đó những công trình như Vấn đề chống lễ giáo phong kiếntrong tiểu thuyết của Nhất Linh Tác giả Nguyễn Thị Hương ; Ngôn ngữnghệ thuật của Nhất Linh trong các sáng tác trước năm 1945 Tác giả Lê ThịQuỳnh; Đặc điểm diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn của Nhất Linh vàKhái Hưng Tác giả Nguyễn Đăng Vy, Nam tính hóa nữ tính - đọc Đoạntuyệt của Nhất Linh từ góc nhìn giới tính và Diễn ngôn về giới tính và thipháp nhân vật Trường hợp Dũng trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh của TrầnVăn Toàn … đã góp phần soi sáng những nét nghệ thuật nổi bật trong tiểuthuyết của Nhất từ cao trào đổi mới, Nhất Linh và những sáng tác của ông đã trởthành đối tượng nghiên cứu của một loạt những luận án, luận văn. Năm 1994,với đề tài “Quan niệm về con người trong tiểu thuyết của tự lực văn đoàn quaba tác giả Nhất Linh - Khái Hưng - Hoàng Đạo, Lê Thị Dục Tú đã miêu tảkhá thuyết phục những đóng góp độc đáo cũng như những hạn chế lịch sửtrong thế giới nghệ thuật của ba nhà văn tiêu biểu của Tự lực văn đoàn, đồngthời cho thấy vị trí quan trọng của ba nhà văn trong tiến trình văn học hiện đạicủa dân tộc. Luận án của Vũ Thị Khánh Dần Tiểu thuyết của Nhất Linhtrước cách mạng tháng Tám năm 1996 Viện văn học đã giới thiệu được vàinét về thời đại lịch sử, xã hội, con người và quan niệm văn chương của NhấtLinh, những tìm tòi và sáng tạo của Nhất Linh trong quá trình hiện đại hóa thể3loại tiểu thuyết và đặc biệt quan tâm tới tiểu thuyết luận đề. Luận án Tiến sĩcủa Đỗ Hồng Đức Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nhất Linh và KháiHưng, năm 2010 đã tìm hiểu giá trị của nhân vật nữ trong tiểu thuyết củaNhất Linh và Khái Hưng thời kỳ Tự lực văn đoàn trên cả hai phương diệnnội dung và nghệ thuật nhằm làm rõ diện mạo của nhân vật nữ với những dấuấn đậm nét về tư tưởng và nhìn từ góc độ nghệ thuật thể hiện. Từ những côngtrình nghiên cứu về Nhất Linh có thể thấy tác phẩm của Nhất Linh đã đượcnghiên cứu ở các phương diện sau• Nghệ thuật xây dựng nhân vật dưới các góc độ Thi pháp, giới tính,chính trị, xã hội, triết học, mĩ học.• Vấn đề chống lễ giáo trong tiểu thuyết Nhất Linh ở nhiều bình diệnkhác nhau, khẳng định tư tưởng tiến bộ của nhà văn trong công cuộc đấutranh giải phóng cá nhân, đặc biệt là giải phóng người phụ nữ khỏi sự kiềmtỏa của lễ giáo phong kiến.• Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh để thấy sự vận độngcủa ngôn ngữ trước và sau khi tham gia Tự lực văn đoàn từ đó đánh giá mộtsố đặc sắc trong ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh.• Gần đây dưới sự soi chiếu của lý thuyết Diễn ngôn, các nhà nghiêncứu đã nghiên cứu tác phẩm của Nhất Linh từ góc nhìn Diễn ngôn để thấyđược xu hướng cách tân trong xây dựng nhân vật, cách tân trong ngôn ngữnghệ thuật của Nhất Linh nói riêng và Tự lực văn đoàn nói Nghiên cứu về nghệ thuật so Trong quá trình giao tiếp hàng ngày, để lời nói tăng thêm tính thuyếtphục, gợi cảm chúng ta thường sử dụng biện pháp so sánh như “Hoa cao hơnmẹ”, “mưa như trút nước”, “chậm như rùa”…. Việc dùng thủ pháp so sánh làmtăng tính hình tượng cho lời nói, đồng thời giúp cho quá trình tri nhận đối tượng4được cụ thể, rõ ràng hơn. Tuy nhiên, mục đích sử dụng biện pháp so sánh tronglời nói hằng ngày và trong tác phẩm văn chương có sự khác nhau. Để hiểu rõhơn những giá trị nghệ thuật của so sánh tu từ cần phân biệt so sánh tu từ Sosánh nghệ thuật và so sánh luận lí So sánh logic, ví dụ1 Tóc của Hoài dài như tóc của Hương. Khẩu ngữ2 Lần này là lần nàng về hẳn, như con chim bay về tổ cũ Đoạntuyệt, Nhất LinhTrong hai ví dụ trên thì ví dụ 1 là so sánh logic còn ví dụ 2 là so sánhtu từ. Chúng phân biệt nhau ở tính hình tượng, tính biểu cảm, tính dị loại vàmục đích của việc so sánh. Trong ví dụ 1, tóc của Hoài và tóc của Hương làhai đối tượng cùng loại - tóc, còn trong ví dụ 2 là hai đối tượng khác loạinàng - người được so sánh với chim - vật. So sánh trong ví dụ 1 nhằm đưara một phán đoán tác động vào nhận thức người đọc nên trung hòa sắc tháibiểu cảm, còn so sánh trong ví dụ 2 lại giàu tính hình tượng và biểu đọc sẽ thấy thú vị khi Nhất Linh so sánh Loan như con chim bay về tổcũ từ đó người đọc dễ dàng tưởng tượng ra niềm vui, sự hồi sinh của Loan khiđoạn tuyệt với gia đình chồng. Các đối tượng trong ví dụ 1 có thể hoán đổi vịtrí cho nhau mà nghĩa không thay đổi, còn các đối tượng của ví dụ 2 có thểhoán đổi vị trí cho nhau nhưng nghĩa hoặc sẽ thay đổi hoặc câu trở nên vô lí1 Tóc của Hương dài như tóc của Hoài +2 Như con chim bay về tổ cũ, lần này là lần nàng về hẳn.-Với những tiêu chí khác biệt như trên mà so sánh tu từ được xem làmột phương tiện hữu hiệu làm tăng thêm giá trị cho tác phẩm nghệ các tác phẩm của mình, Nhất Linh đặc biệt thích sử dụngnghệ thuật so sánh. Cấu trúc so sánh trong tác phẩm Nhất Linh luôn biến hóađa dạng, độc đáo và bất ngờ. Tất cả sự vật, hoạt động, trạng thái, tính chất, sựtình, sự việc… được Nhất Linh đưa vào trong trường so sánh của mình trở5thành đối tượng được so sánh. Song chưa có một công trình nào nghiên cứuchuyên sâu về nghệ thuật so sánh của Nhất Linh, mà mới chỉ có những ý kiếnđánh giá, đáng chú ý là các ý kiến sauTrong tiểu luận “Hạnh phúc trong tác phẩm Nhất Linh”, nhà nghiêncứu Đặng Tiến nhận thấy “trong những đoạn miêu tả thiên nhiên, ngoại giớicủa Nhất Linh có một chữ như, chữ như chìa khóa đưa vào không gian NhấtLinh, chữ như làm môi giới giữa sắc và không, giữa thực tế và cảm giác, giữangoại giới và nội tâm. Nhân vật của Nhất Linh sống trong không gian khôngphải của ngoại giới mà trong không gian của nội tâm. Có thể nói nhân vậtNhất Linh chiếm lĩnh thiên nhiên, ngoại giới bằng cảm giác, đồng hóa thiênnhiên trong cảm giác, trong một thế giới nội tâm phong phú và tinh tế”Hạnhphúc trong tác phẩm Nhất Linh, Đặng Tiến.Trong cuốn Nhất Linh - cây bút trụ cột của Tự lực văn đoàn, BạchNăng Thi nhận xét “… Cho nên văn Nhất Linh vừa rành mạch, trong sángvừa có nhạc điệu có hình ảnh. Nó diễn tả được những cảm giác tinh vi. Nó sửdụng các so sánh cụ thể, có khả năng tạo hình tượng và gợi cảm. Những cảnhdựng nên thường chỉ thoáng qua thôi và chỉ chiếm mấy dòng chữ nhưng lại ănnhịp với tâm trạng nhân vật”.Như vậy có thể thấy, trong các công trình nghiên cứu về Nhất Linh mớichỉ có những đánh giá khái quát, chưa tường giải, đi sâu phân tích các cấutrúc so sánh cụ thể để đánh giá năng lực sáng tạo của nhà văn cũng như đónggóp của Nhất Linh đối với quá trình hiện đại hóa ngôn ngữ trong tiểu thuyếthiện đại. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài“Nghệ thuật so sánhtrong tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh” với mong muốn làm rõ thêm mộtkhía cạnh nghệ thuật được xem là góp phần quan trọng tạo nên sự thành côngtrong các sáng tác của Nhất Đối tượng và phạm vi nghiên cứu* Đối tượng nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là tìm hiểu nghệ thuật sosánh trong tiểu thuyết Đoạn Tuyệt của Nhất Linh - một trong những tác phẩmghi dấu ấn đậm nét của nhà văn trên văn đàn.* Phạm vi nghiên cứuVới đề tài này, luận văn tập trung khảo sát các cấu trúc so sánh trongtiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh, từ đó có những tìm tòi phát hiện đểđánh giá những đóng góp của Nhất Linh đối với quá trình hiện đại hóa ngônngữ Tiếng Đóng góp của luận vănLuận văn mong muốn cung cấp thêm một cách tiếp cận, lí giải tácphẩm văn chương từ góc độ ngôn ngữ mà cụ thể là nghệ thuật so sánh qua đógóp phần nhận diện sự vận động của văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỉ nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật của Tự lực văn đoàn cũng như vănxuôi nghệ thuật đã có nhiều thành tựu quan trọng nhưng chủ yếu vẫn có tínhchất định tính. Luận văn hướng đến một nghiên cứu mang tính định lượngnhằm nhận thức một cách chính xác và tường giải hơn cho lĩnh vực này. Dochỗ hình thức và nội dung trong tác phẩm là một thể thống nhất nên nếu thựchiện tốt nhiệm vụ này, luận văn cũng sẽ đóng góp những kiến giải sâu sắc vềnhững giá trị nội dung và tư tưởng của tác Phương pháp nghiên cứuĐể nghiên cứu đề tài này, luận văn sử dụng những phương pháp nghiêncứu sau đây- Phương pháp liên ngành- Phương pháp đối chiếu, so ra luận văn còn sử dụng các thao tác nghiên cứu như- thống kê - phân phân tích - tổng Kết cấu luận vănGồm 3 chươngChương 1 Những vấn đề lí luận chungChương 2 So sánh với chức năng khắc họa những xung đột xã hộiChương 3 So sánh với chức năng miêu tả thiên nhiên và nhân vật8NỘI DUNGChương 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN Quan niệm chung về so sánh tu từĐể chiêm ngưỡng thế giới muôn màu con người chỉ cần “thức nhọn mọigiác quan” nhưng để nhận thức chúng thì chúng ta phải sử dụng đến các thao táccủa tư duy và so sánh là một trong những thao tác đầu tiên cần có. Hiểu mộtcách đơn giản, so sánh là đem đối chiếu sự vật này với sự vật khác nhằm tìm ranét tương đồng và khác biệt. Trong ngôn ngữ học, so sánh là một trong nhữngbiện pháp tu từ ngữ nghĩa có tác dụng nâng cao hiệu quả giao tiếp. Trong vănhọc, chất liệu chính lại là ngôn từ nên so sánh được coi là một biện pháp nghệthuật có vai trò kiến tạo hình ảnh, biểu tượng qua đó làm tăng hiệu quả thẩm mĩcho tác phẩm văn chương, thể hiện những nét độc đáo trong phong cách nghệthuật của nhà văn. Sự sáng tạo và năng lực của nhà văn thể hiện ở việc chiếmlĩnh thế giới khách quan để xây dựng thành hình ảnh, biểu tượng mang dấu ấnriêng của tác giả. Thông qua hình ảnh, biểu tượng của trường so sánh ở vế B cái được so sánh mà nhân vật trong tác phẩm được khắc họa rõ nét về cả ngoạihình và tính cách. Mặt khác, tìm hiểu nghệ thuật so sánh trong tác phẩm khôngchỉ giúp người đọc rung động trước cái hay, cái đẹp của ngôn từ mà còn có thểhiểu được những nội dung tư tưởng của tác phẩm, hiểu được những nét đặctrưng về văn hóa của thời đại - một trong những cơ sở để tiếp cận, giải mã tácphẩm văn chương một cách toàn diện, sâu về nghệ thuật so sánh, Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặcđiểm tu từ tiếng Việt quan niệm "So sánh tu từ là cách công khai đối chiếuhai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nét giốngnhau nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng"9[ Như vậy, so sánh chính là đối chiếu. Để quá trình so sánh xảy ra,người ta cần ít nhất hai đối tượng cùng tham gia và giữa hai đối tượng nàyphải có nét tương đồng. Đối chiếu để "diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm củađối tượng" tức có nghĩa làm cho đối tượng trở nên rõ ràng hơn. Như thế, nộihàm của khái niệm trên không chỉ bao hàm phương thức so sánh tu từ mà cònbao hàm các kiểu so sánh logic. Định nghĩa trên của Cù Đình Tú chưa nêuđược chức năng thẩm mĩ của so sánh - một chức năng cần thiết mà nó phải cókhi trở thành phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn học. Tuy nhiên, trongcuốn sách này, ông cũng đã trình bày được nhiều kiểu so sánh cơ bản và bướcđầu chỉ ra được chức năng nhận thức và biểu cảm của so sánh tu bổ sung cho định nghĩa trên, trong cuốn Tiếng Việt tập II, NxbGiáo dục, năm 1995, tác giả Đinh Trọng Lạc phát biểu một cách rõ ràng, cụthể về so sánh tu từ "So sánh tu từ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong đóngười ta đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác nhau nhưng giống nhau ởmột điểm nào đó chứ không đồng nhất hoàn toàn, để đem đến một cách trigiác mới mẻ về đối tượng" [ Đặc biệt, Nguyễn Thái Hòa và ĐinhTrọng Lạc trong công trình Phong cách học Tiếng Việt Nxb GD, 1995 mộtlần nữa khẳng định “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vậtnày đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tươngđồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trongnhận thức của người đọc và người nghe” [tr 190]. Như vậy, so sánh chính lànghệ thuật của ngôn từ nhằm "gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúcthẩm mĩ trong nhận thức của người đọc và người nghe". Để hình tượng sốnglâu trong lòng người đọc, những cảm xúc thẩm mĩ mà so sánh tu từ mang lạiquả là quan trọng. Nó không chỉ dừng lại ở mức độ "cụ thể hóa" đối tượng,làm cho đối tượng dễ hình dung, dễ tri nhận, nó còn gợi lên trong lòng ngườiđọc điều mà họ luôn mong chờ khi đón đọc tác phẩm văn học là sau khi gấp10cuốn sách lại, hình tượng văn học đã bước ra ngoài tác phẩm, trở thành mộtphần trong tâm hồn Cấu trúc của so sánh tu từĐịnh nghĩa về so sánh, so sánh tu từ cũng như cấu trúc của so sánh cóđiểm chung khá thống nhất ở các nhà nghiên cứu. Tuy có chút khác nhau vềtên gọi, song hầu hết các công trình nghiên cứu đều thống nhất cấu trúc đầyđủ của so sánh tu từ gồm có 4 yếu Đinh Trọng Lạc, Bùi Minh Toán trong cuốn Tiếng Việt tập II, haitác giả đưa ra cấu trúc chung của các kiểu so sánh gồm 4 yếu tố chính+ Yếu tố 1 yếu tố được/ bị so sánh+ Yếu tố 2 Yếu tố chỉ phương diện so sánh+ Yếu tố 3 Yếu tố chỉ quan hệ so sánh+ Yếu tố 4 Yếu tố so sánh, là yếu tố được dùng làm chuẩn khi so một chút với cách chia trên là cách chia của Hữu Đạt trongPhong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội năm 1999. Đặcbiệt, cách chia của Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong công trìnhPhong cách học Tiếng Việt Nxb Giáo dục 1995 có phần dễ hiểu, dễ áp dụngtrong nghiên cứu tác phẩm văn học. Tác giả cho rằng, trong cấu trúc so sánhgồm bốn yếu tố Cái so sánh CSS được gọi là yếu tố 1; Cơ sở so sánhCSSS được gọi là yếu tố 2 hay chính là phương diện so sánh; từ so sánhđược gọi là yếu tố 3 TSS và Cái được so sánh CĐSS là yếu tố luận văn này, chúng tôi chủ yếu dựa theo cấu trúc so sánh củatác giả Nguyễn Thái Hòa - Đinh Trọng Lạc và gọi tắt các yếu tố 1, 2, 3, 4 lầnlượt là AnxB. Cấu trúc đầy đủ của phép so sánh làCSSABuổi chiềuCSSSnquắt lạiTSSxnhư11CĐSSBmặt người ốm dậySau đây, chúng tôi sẽ tiến hành miêu tả lần lượt các yếu tố trong cấutrúc theo vị trí, hình thức cấu tạo từ loại và chức năng biểu hiện của Yếu tố 1 A - Cái so sánh CSS* Vị tríYếu tố 1 đứng trước ba yếu tố còn lại, đứng đầu câu, thường đứng ngaysau chủ ngữ hoặc thuộc về chủ ngữ. Tuy nhiên, tùy thuộc vào hình thức từloại của nó, kiểu câu, ý nghĩa biểu hiện mà nó có vị trí khác nhau trong dụ như muốn nhấn mạnh tới CSS, nó có thể được đảo vị trí xuống sau cáiđược so sánh CĐSSVí dụ 1 Như đám mây màu lam, khói vờn tỏa trên những nóc nhà."khói vờn tỏa trên nóc nhà" là CSS. "Như đám mây màu lam" là phôngnền, bối cảnh dùng để nổi bật CSS. Tuy nhiên, khi đảo trật tự như vậy, thuộctính "màu lam" của khói được nhấn mạnh, tạo hiệu quả rõ rệt trong tri nhận,cảm thụ nghệ thuật của người tiếp nhận. HoặcVí dụ 2Hãy sáng mãi niềm tin tươi ánh thépNhư quê em Gò Nổi, Kỳ LamHỡi em người con gái Việt NamNgười con gái Việt Nam - Tố HữuCSS ở đây là "Người con gái Việt Nam" - chị Lý được đảo vị trí xuốngsau CĐSS là "quê em Gò Nổi, Kỳ Lam" nhằm nhấn mạnh, ngợi ca đến thuộctính "niềm tin tươi ánh thép" mà chị Lý thừa hưởng từ quê hương tố CSS có thể biến mất khỏi cấu trúc so sánh hay biểu thức ngônngữ so sánh. Căn cứ vào ngữ cảnh câu văn mà người nghe, người đọc có thểnhận diện ra dụ 3 Cháu ra ngoài mà ngủ. Như cái chợNgười nghe, người đọc hiểu rằng Cảnh ở nơi người cháu đang tồn tạirất ồn ào "như cái chợ" không thích hợp với việc "ngủ". Tuy CSS có thể là12trong nhà, trong này, ngoài này... được ẩn đi nhưng người đọc vẫn có thểngầm hiểu được A hay CSS ở đây là gì.* Cấu tạo từ loạiCSS được cấu tạo bởi danh từ hoặc cụm danh từ; động từ hoặc cụmdanh động từ.+ Danh từ hoặc cụm danh từDanh từ là những từ chỉ sự vật người, vật, hiện tượng, khái niệm, đơnvị được chia thành nhiều loại với những chức năng riêng Danh từ chung,danh từ riêng; danh từ chỉ cái cụ thể, danh từ chỉ cái trừu tượng; Danh từ chỉhiện tượng; danh từ chỉ đơn vị...Ví dụ 4Cho tôi hôn bàn tay em lạnh ngắtCho tôi hôn bàn tay em nắm chặtÔi bàn tay như đôi lá còn xanhNgười con gái Việt Nam - Tố HữuCụm danh từ là phần kết hợp giữa danh từ và phụ ngữ. Tùy vào vị trícủa các phụ ngữ đứng trước hay sau danh từ được bổ sung ý nghĩa về sốlượng, vị trí, đặc điểm khác nhau.+ Động từ hoặc cụm động từĐộng từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật. Tuy nhiên cónhững động từ vốn để chỉ hoạt động nhưng lại dùng để chỉ trạng thái hoặcngược dụ 5 "Một người lính quát một tiếng, thế là cả cái dòng người ấy tantác ra như một đàn ruồi ở sau mông con bò, lúc bị cái đuôi bò đập một cái vậy"Giông tố - Vũ Trọng PhụngCụm động từ là sự kết hợp giữa động từ và các phụ từ. Các phụ từ nàynếu đứng đằng trước nhằm bổ sung ý nghĩa về quan hệ thời gian, sự tiếp diễn13tương tự, sự khuyến khích, ngăn cản, khẳng định hoặc phủ định... Nếu đứngđằng sau động từ, nó giúp bổ sung cho động từ chi tiết về hướng, địa điểm,mục đích, nguyên nhân, phương tiện...Ví dụ 6 "Nghe lời có lý, cái bọn bốn năm chục người đương lôi thôi,lốc thốc cắm đầu cắm cổ bước đi một cách buồn rầu như đàn cừu ấy, bỗngbảo nhau đứng dừng cả lại"Vỡ đê - Vũ Trọng Phụng+ Cụm danh động từ hay cụm chủ - vịCụm danh động từ được cấu tạo bởi sự kết hợp giữa danh từ hay cụmdanh từ và động từ tạo thành một cụm chủ - vị hoàn chỉnh, giữ chức năng làtrạng ngữ, chủ ngữ hoặc vị ngữ trong dụ 7 "Ông già lắc đầu thất vọng như phải có việc với một thằngngu, một kẻ hoàn toàn bỏ đi nên nguây nguẩy"Lấy nhau vì tình - Vũ Trọng Phụng* Chức năngKhi CSS là danh từ hoặc cụm danh từ, nó giữ vai trò là chủ ngữ trongcâu, làm chủ thể của những đặc điểm, hành động được miêu tả, so sánh ởtrong có thể biểu thị những đối tượng cụ thể, có thể tri giác, cảm giácđược một cách nhanh chóng, rõ ràng như người, vật, hành động cụ dụ 8Súng nổ rung trời giận giữNgười lên như nước vỡ bờĐất nước - Nguyễn Đình ThiCSS cũng có thể biểu thị những đối tượng trừu tượng như ý niệm, kháiniệm, tình cảm14Ví dụ 9Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rétTình yêu ta như cánh kiến hoa vàngNhư xuân đến chim rừng lông trở biếcTiếng hát con tàu - Chế Lan Viên Yếu tố 2 - Cơ sở so sánh n* Vị tríTrong cấu trúc so sánh, CSSS là thuộc tính của CSS. Nó có thể là trạngthái, hành động, tính chất của CSS. Và nó cũng là phần giao nhau giữa CSS vàCĐSS. Yếu tố 2 thường đứng ngay sau yếu tố 1, trước từ dùng để so sánh và cáiđược dùng để so sánh. Tuy nhiên yếu tố 2 cũng có thể được đảo lên đầu, đượcđưa xuống cuối cấu trúc so sánh hoặc có thể biến mất cùng với dụ 1Người giai nhân bến đợi dưới cây giàTình du khách thuyền qua không buộc chặtXuân DiệuKhi bị ẩn đi, người tiếp nhận vẫn nhận thấy vùng giao thoa thuộc tính giữathực thể so sánh và cái được so sánh Với người giai nhân và bến đợi thì đó chínhlà sự thủy chung, đợi chờ, mòn mỏi; với tình du khách và thuyền qua không buộcchặt đó chính là sự hờ hững, phiêu lưu, thiếu thủy chung, dễ thay đổi...Trong thực tế, CSSS hay phương diện so sánh thường khuyết thiếucùng với thực thể được so sánhVí dụ 2Như diều gặp gióNhư nước vỡ bờNhư muối bỏ bểThành ngữhoặc khuyết thiếu cùng với từ chỉ kết quả so sánh như ví dụ 1 ở Hình thức cấu tạoBởi là thuộc tính của A, chỉ trạng thái, tính chất, hành động của A nênCSSS khi xuất hiện ở hình thức cấu tạo là động từ hoặc tính từ.+ Động từVí dụ3Như đỉnh non cao tự giấu mìnhTrong rừng xanh lá ghét hư vinhChỉ lo muôn mối như lòng mẹCho hôm nay và cho mai sauBác ơi - Tố HữuĐộng từ "tự giấu mình", "ghét hư vinh" ngầm chỉ và ngợi ca đức tínhgiản dị, không thích phô trương, không ưa hào nhoáng và ghét hư vinh củaBác câu văn, cơ sở so sánh khi là động từ, cùng với trạng ngữ củacâu, nó cũng chỉ ra được thời gian diễn ra sự so dụ 4Anh đội viên mơ màngNhư nằm trong giấc mộngMinh HuệTừ ngữ "mơ màng" chỉ hành động đang xảy ra ngay tại thời điểm khiđược Bác Hồ đi dém chăn, người đội viên sung sướng lâng lâng ngỡ mìnhđang ở trong mơ.+ Tính từVí dụ 5Bác lớn như trời đất của taYêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa...Bác ơi - Tố Hữu16* Chức năngCSSS cho biết phương diện, phạm vi, khía cạnh của sự vật, hiện tượng,khái niệm, hành động... được so sánh. Nói cách khác, CSSS là một phần củayếu tố 1, biểu hiện thuộc tính, hành động của CSS và nhiều khi, nó hợp nhấtvới CĐSS như trong ví dụ sauTìm em như thể tìm chimChim ăn bể bắc đi tìm bể đôngCa daoĐồng thời, CSSS còn cho thấy vùng tương đồng giữa A và B trong cấutrúc so sánh. Đôi khi, CSSS có thể được ẩn đi, người đọc dựa vào nét tươngđồng giữa hai yếu tố 1 và 2 để xác định cơ sở so sánh. Kiểu so sánh ẩn điCSSS được các nhà nghiên cứu như Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Đinh TrọngLạc... gọi là kiểu so sánh chìm. Tuy khó nắm bắt nhưng "đứng về mặt nộidung biểu hiện thì so sánh tu từ chìm tạo điều kiện cho sự liên tưởng rộng rãihơn với so sánh nổi, nó kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiềuhơn so sánh nổi" [37; Yếu tố 3 - Từ dùng để so sánh xYếu tố 3 có thể đứng giữa hai thực thể A và B trong câu văn hoặc đứngở đầu câu nhưVí dụ 1 Giống như vệt khói nhờ, nắng vờn qua những màu xanh bóngloáng của một dãy xóm làng cây cối im lìm.Đôi mắt - Nam CaoSong, yếu tố này luôn luôn đứng trước cái được dùng để so sánh B. Đốivới những biểu thức so sánh thiếu B, từ dùng để so sánh thường được kết hợpvới các từ "ấy", "đấy".Ví dụ 2 Cha nói giỏi. Nó còn hơn cả ví dụ trên, từ chỉ kết quả so sánh "hơn cả" không đứng trướcCSS. Trong câu thứ hai, CSS bị khuyết thiếu, căn cứ vào ngữ cảnh câu văntrước mà người tiếp nhận có thể hiểu rằng Nó còn giỏi hơn cha của Hình thức cấu tạoTừ dùng để so sánh được cấu tạo bởi động từ hoặc kết từ.+ Động từ giống, không giống, tựa, hơn, kém, là... có nghĩa biểu thị sựngang bằng, đồng nhất; không ngang bằng, không đồng nhất, mức độ khôngngang bằng... về hình dáng, màu sắc, tính chất+ Kết từ như biểu thị mối quan hệ gắn kết giữa hai hay nhiều đốitượng có chung nét tương đồng về tính chất, mức độ, cách thức, hình thức...* Vai tròTừ dùng để so sánh hay từ chỉ kết quả so sánh cho phép người tiếpnhận biết được sự đồng nhất hay khác biệt của thực thể được so sánh và cáidùng để so sánh. Để biểu thị sự giống nhau, tương đồng nhau, bằng nhauphép so sánh thường dùng các từ ngữ như giống, giông giống, hơi giống,giống hệt, giống như hai giọt nước, giống như in, hao hao giống, giống nhưđúc; như , như thể, như là, hệt như, tựa như, như hệt, y như, tựa hồ, hồ như,na ná; là; bằng, xem bằng, tầy, bao nhiêu - bấy nhiêu, ... hay các ngữ kết cấukiểu phủ định của phủ định như khác gì, không kém gì, chẳng khác gì, khôngkhác, không khác gì, chẳng khác chi, không thua, không thua gì, chẳng kém,kém gì, chẳng kém gì...Ví dụ 3 Con nhà tông không giống lông cũng giống dụ 4 Cuộn len như quả cầu xanh đang lăn những vòng chậm rãi.Ý Nhi - Người đàn bà ngồi đanĐể biểu thị sự khác biệt, chênh lệch, hơn kém, người ta thường dùngcác từ ngữ có ý nghĩa phủ định kết hợp với các từ ở trên hoặc dùng các từ saukhác, nhất - nhì, hơn, kém, không thể nào so sánh được, hơn cả, hơn tất cả,hơn hết thảy, hơn hết, hơn ai hết, không gì hơn, nào bằng, hơn mọi, không cóai hơn thế, chẳng đâu, chẳng ai sánh bằng, nhất....18Ví dụ 5 Xứ Nam nhất chợ Bằng VồiXứ Bắc Vân Khánh, xứ Đoài Hương CanhCa daoTuy nhiên, ở nhiều công trình nghiên cứu hiện nay, từ kết quả so sánh,để cụ thể hơn, người nghiên cứu đã chia các từ dùng để so sánh thành cácnhóm nhỏ sau+ Từ chỉ sự tương ứng, tương đồng như, tựa như, giống...+ Từ chỉ mức độ hơn kém, ngang bằng hơn, kém, nhất, bằng, vừa...+ Từ chỉ sự hô ứng bao nhiêu...bấy nhiêuVí dụ 6Qua cầu ngả nón trông cầuCầu bao nhiêu nhịp em sầu bấy nhiêuCa daoNỗi sầu muộn của người con gái tỉ lệ thuận với số lượng nhịp cầu, qua cặpso sánh hô ứng, nỗi buồn dường như được cụ thể hơn, nhân lên nhiều hơn.+ Từ chỉ sự tăng tiến càng... càngVí dụ 7Bà Typn càng lạy van, nó càng thản nhiên.Số đỏ - Vũ Trọng PhụngQua cặp từ so sánh tăng tiến "càng ... càng", hành động của Xuân TócĐỏ tỉ lệ thuận với sự lạy van của bà Typn cho thấy mức độ giả tạo của bà vàsự trơ tráo của Xuân rất ăn khớp, rất hợp gu với tế, trong luận án Tiến sĩ của Trần Thị Oanh, Hành động so sánhcủa người Việt Năm 2014, các cặp từ bao nhiêu, bấy nhiêu đều được xét đếntrong so sánh đồng nhất, không tách riêng rẽ như trong cách chia trên. Tuynhiên theo chúng tôi, cách hợp nhất như thế cũng rất có lý bởi mỗi mức độ củahành động, trạng thái hay tính chất của thực thể được so sánh gần như ngang19bằng về mức độ với hành động, tính chất, trạng thái của thực thể dùng để sosánh. Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi giữ nguyên cách phân chia ban cấu trúc so sánh, từ dùng để so sánh hay từ biểu thị kết quả sosánh ở trên có thể được thay thế bởi dấu câu như dấu ""; ","; "-".... Đối vớinhững trường hợp này, thường thì CSSS hay phương diện so sánh cũng bịtriệt tiêu. Song, hai yếu tố chính là CSS và CĐSS được giữ dụ 8Người giai nhân bến đợi dưới cây giàTình du khách thuyền qua không buộc chặtXuân DiệuThay vì nói "Người giai nhân như bến đợi dưới cây già/ Tình du kháchnhư thuyền qua không buộc chặt" thì từ dùng để so sánh ở đây đã bị thay thếbởi dấu "" làm cho câu thơ bị chia ra, ngắt nhịp đồng thời cũng để cho ngườiđọc có thể hình dung được hai vế so sánh rất cô đọng, hàm súc.[22/ Yếu tố 4 - Cái được so sánh CĐSS BCái được so sánh hay chính là bối cảnh, là phông nền, là yếu tố đượcdùng làm chuẩn để so sánh. Giữa cái được so sánh và cái dùng làm chuẩn đểso sánh luôn có mối quan hệ tương đồng hoặc khác biệt.* Vị tríCĐSS có thể đứng trước CSS và luôn đi sau từ dùng để so sánh. Tùyvào từng ngữ cảnh và ý muốn nhấn mạnh của câu nói mà B có thể đứng trướchay sau A.* Hình thức cấu tạoCĐSS có thể được cấu tạo bởi danh từ, cụm danh từ, cụm C-V hoặcđộng dụ 1Cày đồng đang buổi ban trưaMồ hôi thánh thót như mưa ruộng càyCa dao20Ví dụ 2 Một mạng lớn giết đi một mạng nhỏ, êm nhẹ như hơi chiềulặng lờ sang.Truyện gã chuột bạch -Tô HoàiVí dụ 3Lão cười như mếu.Lão Hạc - Nam Cao* Vai tròCĐSS là cái được dùng làm chuẩn và thường không thể vắng mặttrong cấu trúc so sánh, quyết định chủ yếu đến giá trị của phép so cũng thường là những thực thể, hành động, trạng thái, tính chất gầngũi nhằm giúp người đọc, người nghe có thể dễ dàng hình dung về lời nói hàng ngày và nhất là trong văn chương nghệ thuật, CĐSS cóvai trò đặc biệt quan trọng trong việc phản ánh tư duy nghệ thuật của tácgiả. Nó mang dấu ấn cảm xúc, thái độ của tác giả, góp phần khẳng địnhphong cách riêng độc đáo của tác thể có một hoặc nhiều hành động, trạng thái được mang ra làmchuẩn để đối chiếu, so sánh với một hoặc nhiều thực thể. Người ta gọi đó làcấu trúc so sánh dạng mở rộng. Những CĐSS ở cấu trúc mở rộng thường cónhững nét tương dụ 4Đàn ông nằm với đàn ôngNhư gốc, như gác, như chông, như chàĐàn ông nằm với đàn bàNhư lụa, như lĩnh, như hoa trên cànhCa daoTrong lời ca dao trên, việc "đàn ông nằm với đàn ông" được so sánhvới hàng loạt những danh từ có sự tương đồng "gốc gác", "chông chà" nhằm21đặc tả sự khô khan, thiếu cảm xúc, bất hợp lý. Ngược lại với điều đó là sựtươi mới, mát mẻ, êm ái, đầy xúc cảm như "lụa", "lĩnh", "hoa trên cành" khi"đàn ông nằm với đàn bà". Thông qua cách so sánh mở rộng, thực thể được sosánh trở nên rõ ràng, dễ nắm bắt Phân loại so sánh tu Tiêu chí phân loạiCó nhiều tiêu chí để phân loại so sánh tu từ song các nhà nghiên cứuchủ yếu phân loại nó dựa trên cấu trúc so sánh để phân thành hai loại so sánhchìm và so sánh nổi. Một số nhà nghiên cứu lại chia so sánh thành các kiểudựa vào từ ngữ dùng để so sánh mà có các loại như so sánh ngang bằng và sosánh hơn kém. Nhà nghiên cứu Đào Thản lại chia so sánh tu từ dựa vào mụcđích của phép so sánh. Theo như tác giả Đào Thản trong Từ ngôn ngữ chungđến ngôn ngữ nghệ thuật, NXb Khoa học Xã hội, 1988, và công trình nghiêncứu của Searle so sánh có các kiểu sau+ So sánh để giải thích+ So sánh để miêu tả+ So sánh để biểu lộ tình cảm+ So sánh để đánh giá+ So sánh liên tiếp+ So sánh phát triển+ So sánh hơn kém+ So sánh đặc biệtNhư trên, có thể thấy, bốn kiểu đầu dựa vào chức năng, ý nghĩa, mụcđích biểu hiện của ngôn ngữ để phân chia kiểu so sánh tu từ; bốn kiểu sau dựavào cấu trúc hay biểu thức ngôn ngữ so sánh để phân như Searle, các hành động ngôn ngữ đều nhằm tới các mục đíchnhư tái hiện, kể, thông tin, điều khiển, biểu cảm và tuyên bố. Biểu thức ngôn22
nghệ thuật so sánh